Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì

Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì
Rate this post

Hoa quả giống như rau tươi, là thực phẩm không thể thiếu đối với sức khỏe con người. Nguồn hoa quả đa dạng phong phú, nhiều chủng loại. Hoa quả tươi ngon, dễ ăn vừa mang lại giá trị dinh dưỡng, lại có ích trong việc kích thích ham muốn ăn, giúp tiêu hóa tốt, đặc biệt có những loại quả còn có tác dụng chữa bệnh. Tuy nhiên, nếu phụ nữ mang thai không hiểu rõ đặc điểm của từng loại quả và giai đoạn thai nào nên ăn quả gì, ăn nhiều, ăn bừa, thì không những không có ích mà còn có hại cho sức khỏe, ảnh hưởng không tốt tới thai nhi.

Táo

Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì - Táo
Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì – Táo

Mùi vị, màu sắc của táo tươi ngon, cùi giòn, ngọt, là một trong những loại quả được yêu thích nhất. Do sản lượng táo cao, được trồng rộng khắp nên nó được xếp vào 4 loại quả lớn thế giới cùng với nho, quýt và chuối.

Táo giàu dinh dưỡng, trong 100g cùi táo có chứa 15g đường, 0.2g protein, 5mg vitamin C, 9mg photpho, 11mg canxi, 100mg kali, 14mg natri. Ngoài ra,trong táo còn chứa carotin, vitamin Bu axit của táo… Táo có vị chua, tính bình, có công dụng bổ phôi tiêu đòm, khai vị hòa tì, rất thích hợp cho phụ nữ mang thai. Táo còn có thể làm giảm đau bụng nếu phụ nữ mang thai bị đi ngoài, có thể chữa trị theo cách sau: Pha 25g bột táo khô với nước ấm, uống trước khi ăn, mỗi ngày 2-3 lần. Táo còn có thể chữa chứng tiêu hóa kém. Mỗi ngày ăn một quả táo sau bữa cơm, rất tốt cho tiêu hóa. Gầu đây, các nhà khoa học nước ngoài còn phát hiện thấy táo chứa nhiều kẽm. Kẽm không chỉ có ích cho sự phát triển cơ bắp mà còn có thể làm giảm bệnh cảm lạnh. Một nghiên cứu khác của một giáo sư người Nhật Bản cho biết, mỗi ngày ăn 3 quả táo thì có thể duy trì huyết áp bình thường. Bởi vậy thường xuyên ăn táo với lượng thích hợp có tác dụng nhất định trong việc phòng và chống bệnh huyết áp cao thai nghén.

Tuy nhiên người bị táo bón và mắc bệnh viêm loét dạ dày, ruột non thì không nên ăn nhiều táo.

Lê xưa này được mệnh danh là “bậc thầy của trăm quả”. Lê có nhiều loại phong phú, sản lượng chỉ xếp sau táo. Theo phân tích khoa học, hàm lượng đường trong lê đạt 8~20%, chủ yêu là đường gluco và đường mía; Hàm lượng axit hữu cơ như axit táo và axit chanh; Vitamin B, vitamin C; canxi, phopho, sắt cũng tương đối phong phú.

Hoa, lá, vỏ cây của lê cũng đều có giá trị chữa bệnh nhất định. Đông y cho rằng, lê với vị chua ngọt có tác dụng mát ruột bổ phổi, lợi tiểu, thanh nhiệt giải độc, mát họng tiêu đờm, giảm ho. Chữa được các bệnh như: nóng phổi ho đờm nhiều, họng khô, mắt đỏ, mất giọng, đại tiểu tiện khó khăn,… Lấy một quả lê to, bổ đôi, bỏ hạt, cho 5g bối mẫu sau đó đậy lại, dùng que xuyên chắc, cho vào trong bát hấp cách thủy 1~2 tiếng, uống canh, ăn lê, mỗi ngày một quả, có thể chữa bệnh cảm lạnh, ho, viêm phế quản cấp tính.

Lê tính hàn, những người ho lạnh, đi ngoài phân lỏng  không nên ăn.

Chuối tiêu

Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì - Chuối tiêu

Chuối tiêu có mùi thơm ngon được nhiều người yêu thích, là loại quả bổ dưỡng. Chuôi tiêu giàu dinh dưỡng (cứ 100g chuối tiêu có chứa 1.2g protein, 20g đường, 0.6g mỡ, 0.9g chất xơ, 9mg canxi, 3mg photpho, 0.6mg sắt, 0.25g carotin), hơn nữa còn có công dụng chữa bệnh, vị ngọt, tính hàn của nó có tác dụng thanh nhiệt bổ phổi, nhuận tràng, giảm huyết áp, thích hợp với những người huyết áp cao, đi ngoài phân khô. Râu ngô, vỏ dưa hấu sắc với chuối tiêu là biện pháp chữa trị có hiệu quả đối với bệnh huyết áp cao, mỗi ngày lấy 60g râu ngô, 60g vỏ dưa hấu, 3 quả chuối bóc vỏ, cho 4 bát nước vào sắc thành nửa bát, cho thêm đường phèn vào, chia làm đôi, uống hết trong ngày. Lấy 1~2 quả chuối tiêu, nấu với đường phèn, mỗi ngày uống 1-2 lần, uống nhiều ngày liền, cố thể chữa bệnh ho mãn tính.

Do chuối tiêu có tính mát nên những người đau bụng đi ngoài, phân lỏng không nên ăn.

Cam quýt

Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì - Cam quýt
Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì – Cam quýt

Cam quýt là chỉ các loại cam, quýt, bưởi. Chúng có đặc điểm: thơm ngọt, dinh dưỡng phong phú. Đặc biệt giàu vitamin C (100g cam quýt có chứa 34~54mg vitamin C), có thể bổ sung vitamin C cho cơ thể. Vitamin C có ích cho sự phát triển xương, răng của thai nhi, có tác dụng thúc đẩy hệ thống tạo máu và sức đề kháng của cơ thể, phụ nữ mang thai mỗi ngày nên hấp thu khoảng 80~100mg vitamin C.

Cam quýt cũng có tác dụng chữa bệnh, vỏ, lá, hạt, cùi, múi, đường gân của cam quýt đều có công dụng. Nước cam quýt có tác dụng thông ruột lợi khí, bổ phổi nở ngực, thích hợp cho phụ nữ mang thai – những người đầy bụng, hay nôn, ăn ít. Vỏ quýt hơi đắng, tính ôn, có tác dụng thông khí bổ tì, giảm ho tiêu đờm, thích hợp cho những người tiêu hóa kém, hay nôn, đầy bụng. Dù là sản phẩm tươi hay khô đều có thể sử dụng. Ở đây xin được giới thiệu hai đơn thuốc:

  • Chữa cảm lạnh ho: vỏ quýt, gừng, lá tía tô mỗi loại 10g, cho thêm ít đường đỏ, sắc lên uống
  • Chữa bệnh dạ dày lạnh hay nôn: vỏ quýt, gừng, ớt mỗi loại 6g, sắc lên uống.

Cam quýt đều có vị chua, song tính chất khác nhau, cam tính mát, quýt tính ôn. Tùy theo tính chất và bệnh tình của bản thân để chọn cam hay quýt thích hợp với mình. Nhìn chung, những phụ nữ mang thai nóng phổi, nóng dạ dày, táo bón nên ăn cam; còn những phụ nữ mang thai phôi lạnh, dạ dày lạnh thì nên ăn quýt. Ngoài ra, khi ăn quả tươi, nên ăn cả múi quýt lẫn xơ quýt, xơ quýt có công dụng thông khí tiêu đờm, hơn nữa giàu vitamin D.

Nho

Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì - Nho

Nho có chứa hàm lượng đường gluco, glucoda phong phú, khiến cơ thể dễ hấp thu; Đồng thời còn chứa nhiều muối vô cơ như kali, canxi, photpho, sắt và các loại vitamin.

Các nhà y học cổ đại cho rằng nho vị chua ngọt, tính bình có công dụng tráng dương bổ huyết, thông tiểu, xương cốt rắn chắc, là một loại quả bổ dưỡng, thích hợp cho phụ nữ mang thai thiếu máu, những người bị bệnh phù thũng, ho lâu ngày, tim hồi hộp, ra mồ hôi trộm, tê thấp…

Nho tươi ép lấy nước, gừng rửa sạch, ép lấy nước, đun nước sôi, rồi đổ một cốc trà xanh đặc vào, đổ nước nho ép, nước gừng ép (mỗi  loại 50g), mật ong vừa đủ, uống lúc còn nóng có thể chữa bệnh kiết lị a-míp.

Ngoài ra nho còn có thể chữa bệnh nhiễm hệ thống tiết niệu cấp tính. Biện pháp là: Lấy nước nho ép, nước ngó sen ép, nước sinh địa (vị thuốc Đông y) ép, mỗi loại 300ml, 250g mật ong, cho vào đun sôi, mỗi ngày uống 120ml trước bữa ăn.

Người bị cảm lạnh không nên ăn nho.

Dưa hấu

Dưa hấu chủ yếu do nước cấu thành, hàm lượng nước trong dưa hấu chiếm hơn 94%, ngoài ra còn chứa đường gluco, vitamin A, vitamin B, vitamin C, vitamin D phong phú, có giá trị dinh dưỡng cao. Theo hóa nghiệm cứ 100g dưa hấu có chưa 94.1g nước, 1.2g protein, 4.2g đường, 22 Kcalo, 0.3g chất xơ, 6mg canxi, 10mg photpho, 0.2mg sắt, 0.17g carotin, 0.02mg vitamin B1, 0.02mg B2, 3g vitamin C.

Dưa hấu có tác dụng thanh nhiệt giải nóng, giảm khát xua tan mệt mỏi, thông tiểu, còn có thể chữa các bệnh nhưkhô họng, rát họng, ho ra máu, lở mồm… có mệnh danh là “cácnh bạch hổ thiên nhiên”

Vào mùa hè nóng nực, một số phụ nữ mang thai không ăn nổi cơm, lúc này, ăn một chút dưa hấu thì có thể bổ sung nước và dinh dưỡng, lại còn có thể thông ruột, tốt cho tiêu hóa.

Theo người xưa, dưa hấu có vị ngọt dịu, tính hàn, có công dụng lợi tiểu, thanh nhiệt, giảm khát. Khoa học ngày nay còn cho thấy dưa hấu có tác dụng làm giảm huyết áp, thích hợp cho những người bị huyết áp cao, phù thũng. Nếu không vào mùa dưa hấu thì có thể dùng vỏ dưa hấu phơi khô thay thế, đun lên uống thay trà, cũng rất có hiệu quả.

Mặc dù dưa hấu có vị ngọt, nhưng lại có tính hàn, không nên ăn nhiều, những người tì vị lạnh càng nên thận trọng.

Nhãn

Trong nhãn có chứa các chất như đường gluco, vitamin, đường mía, dinh dưỡng phong phú, có tác dụng bổ tì, sung huyết, an thần, có thể dùng để chữa bệnh thiếu máu, mất ngủ, hay quên, thần kinh suy yếu, cơ thể suy nhược sau khi sinh hoặc sau khi bị bệnh. Tuy nhiên, những loại quả có vị ngọt, tính ôn, đều không thích hợp đối với những người âm suy, nóng trong hoặc mắc bệnh mang tính nóng.

Sau khi mang thai, để thích ứng với sự phát triển của thai nhi và để chuẩn bị cho việc sinh đẻ, cơ thể phụ nữ mang thai diễn ra hàng loạt những thay đổi về sinh lý. Trong đó, hệ thống sinh sản biến đổi rõ rệt nhất, do huyết quản của cơ tử cung nhiều lên, nên lượng máu sau khi mang thai tăng rõ rệt, huyết quản ở các bộ phận như cổ tử cung, thành âm đạo, ống dẫn trứng đều ở vào trạng thái căng phồng và chứa ứ máu. Lượng máu ở hệ thống tuần hoàn máu cũng tăng rõ rệt, làm tăng thêm gánh nặng cho tim, tim đập nhanh hơn. Chức năng bài tiết cũng tăng, ALD được bài tiết ra nhiều hơn, dễ dẫn tới phù thũng và huyết áp cao; Tuyến yên ở não, tuyến giáp trạng và bàng tuyến giáp trạng xuất hiện hiện tưọng phình to và ớ máu, chức năng tăng mạnh. Ở hệ thống tiêu hóa, vị toan bài tiết ít, chức năng dạ dày giảm, sẽ xuất hiện hiện tượng chán ăn, thích đồ ăn chua, dạ dày trương phồng phân khô. Xét từ góc độ y học, đối với âm huyết thiên hư âm suy trong lại nóng, nếu ăn nhãn bừa bãi, sẽ gây ra hoặc làm nặng thêm hiện tượng nôn mửa thai nghén, thậm chí còn dẫn tới sảy thai.

Cà rốt

Bệnh do thiếu vitamin A là một trong những loại bệnh thường gặp nhất. Theo điều tra, hàm lượng vitamin A trong máu của cư dân thị trấn, thành thị, đặc biệt là trẻ em và phu nữ mang thai thấp hơn 100-300 đơn vị quốc tế/100 ml so với tiêu chuẩn bình thường. Nếu phụ nữ mang thai thiếu vitamin A sẽ dẫn tới những dị tật bẩm sinh ở não, mắt, tai, đường tiết niệu, đường sinh sản, hệ thống tâm huyết quản,… của thai nhi, thậm chí còn khiến thai nhi tử vong. Làm thí nghiệm với chuột mẹ, cho chuột mẹ ăn thiếu vitamin A, có thể gây ra dị hình ở chuột con như không có mắt, mắt nhỏ, thận, buồng trứng và tinh hoàn đều khiếm khuyết. Làm thí nghiệm đối với khỉ, cho khỉ mẹ ăn thức ăn có hàm lượng vitamin A thấp, có thể khiến khỉ con bị bệnh mắt khô.

Do vậy, các nhà khoa học cho rằng, bổ sung carotin trong bữa ăn hàng ngày vô cùng quan trọng đối với phụ nữ mang thai.

Cà rổt chứa một loại chất carotin- vô cùng phong phú cứ 100g cà rối có khoảng 1.45mg carotin. Tầm quan trọng tạo nên chất dinh dưỡng của loại chất này có liên quanmật thiết tới chức năng tạo thành tiền thể vitamin A của chất này. Carotin có 4 công dụng chủ yếu sau:

  • Có tác dụng chuyển hóa tiền thể vitamin A trong cơ thể thành vitamin A (Duy trì chức năng nhìn bóng tối bảo vệ sức khỏe của các tổ chức thượng bì, thúc đẩy sinh trưởng phát triển.
  • Là chất chống oxi hóa; Nâng cao chức năng miễn dịch ỏ cơ thể;
  • Chống ung thư, nếu cơ thể thiếu carotin thì có thể dẫn tới bệnh thiếu vitamin.

Yên An

Bài viết liên quan

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Read also x