Trẻ ăn uống các thứ cao cấp, tinh chế có tốt không?

Những trẻ là con một được chăm sóc, nuông chiều đủ mọi thứ, sự nuôi dưỡng các cháu được bố mẹ cực kỳ quan tâm. Có những bậc cha mẹ cho rằng, trẻ ăn uống nhất định là phải ăn các thức ăn cao cấp, tinh chế. Thế là, thường xuyên cho trẻ ăn các thứ như sữa mạch tinh, sữa ong chúa, sô-cô- la, bánh nhân sâm, kẹo (đường) yến sào v.v…

Trẻ ăn uống các thứ cao cấp, tinh chế có tốt không?
Trẻ ăn uống các thứ cao cấp, tinh chế có tốt không?

Như vậy rất có hại. Vì thành phần dinh dưỡng của những loại thực phẩm cao cấp  này không phải là toàn diện, đầy đủ, đa phần là chất đường, không có các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự trưởng thành và phát triển của cơ thể vì thời gian dài ăn những loại thực phẩm này, nên không thể ăn ngon miệng bữa cơm bình thường, không những ảnh hưởng đến ăn uống trẻ, mà còn có thể gây ra thiếu sót một vài chất dinh dưỡng nào đó từ đó làm hại sức khoẻ và sự phát triển của trẻ .

Sắp xếp bữa ăn cho trẻ cần chú ý những điểm gì?

Sắp xếp bữa ăn hàng ngày

Bữa ăn của trẻ đã đầy năm, ăn chính từ loại sữa quá độ chuyến sang ăn ngũ cốc, đồng thời bắt đầu ăn đến thịt cá, càng nên xác định thói quen ăn uống tốt cho trẻ .

Sắp xếp bữa ăn hằng ngày cho trẻ như thế nào?
Sắp xếp bữa ăn hằng ngày cho trẻ như thế nào?
  1. Ăn đúng giờ, sắp xếp thời gian ăn uống hợp lý ăn chính cách 3,5-4 giờ 1 lần, gồm có ăn sáng, ăn trưa, điểm tâm, ăn tối. Cá biệt có buổi sáng tối ăn thêm điểm tâm 1 lần bích quy, bánh, trứng gà v.v.. .
  2. Phối hợp nhiệt năng trong 1 ngày 3 bữa: 1 điểm tâm ăn sáng 20%, ăn trưa chiếm 35%, ăn tối chiếm 30%, điểm tâm 15% .
  3. Sắp xếp tỷ lệ dinh dưỡng trong bữa ăn ngày nên lấy chất đạm làm chính. Tỷ lệ giữa chất đạm và chất béo, chất đường phải là 1:0,6  0,8:4-5. Nếu theo tỷ lệ nhiệt năng thì chất đạm chiếm 16%, chất béo chiếm 15%-20%, chất đường chiếm 65%- 70%.

Sắp xếp bữa ăn cho trẻ cần chú ý những điểm gì?

Sắp xếp bữa ăn cho trẻ cần chú ý những điểm gì

  1. Chú ý pha chế điều chỉnh chất dinh dưỡng, giữa chất ăn thô với chất ăn tinh, giữa ăn thịt với ăn cá. Mỗi tuần ăn mì gạo ít nhất 2-3 lần. Chất béo ăn dầu thực vật là chính. Phải cho ăn đầy đủ chất đạm, trong đó đạm động vật phải là 2/3, đạm thực vật là 1/3, các loại vitamin phải cung cấp đầy đủ.
  2. Cho ăn nhiều loại, màu sắc đa dạng, để tăng tiến thêm cảm giác ăn của trẻ, đồng thời bảo đảm cung cấp nhiều loại vitamin, tránh ăn đơn điệu .
  3. Nấu nướng phải chú ý tới đặc điểm tiêu hoá của trẻ và mùi vị hương sắc, gia vị phải thích hợp, ngon miệng, màu sắc  tươi đẹp, tránh dùng bột gia vị có tính kích thích, ít cho ăn đồ rán .
  4. Chú ý khi thời tiết thay đổi, mùa hè có thể ăn vừa phải những thứ như cơm canh, thức ăn, nước ngọt đã nguội mát, mùa đông phải ăn cơm canh, thức ăn, nước ngọt ấm nóng .

Sắp xếp ăn uống với trẻ tiêu hóa kém

Trước hết về mặt cung cấp nhiệt năng, phải căn cứ bệnh tình và khả năng chịu đựng của dạ dày, đường ruột đối với thực phẩm để quyết định lượng nhiệt năng cung cấp. Phải dựa theo nguyên tắc tăng dần dần cho trẻ ăn uống hợp lý. Trẻ bị nhẹ có thể bắt đầu từ mỗi ngày 251,04-334,72 kilo junl/ kg cân nặng, trẻ bị nặng có thể tham khảo cơ sở có trước đây, mỗi ngày có thể bắt đầu từ 175,36 -251,04 kg Junl/ cân nặng, tăng dần từ lượng nhỏ lên.

Sắp xếp ăn uống như thế nào đối với trẻ tiêu hóa kém
Sắp xếp ăn uống như thế nào đối với trẻ tiêu hóa kém

Nếu tiêu hoá hấp thụ khá tốt, có thể tăng dần lên mỗi ngày từ 502,08 -627,5 kg Junl/ cân nặng, đồng thời theo cân nặng thực tế tính ra nhiệt năng. Cung cấp nhiệt năng cho trẻ suy dinh dưỡng phải lớn hơn của trẻ khoẻ mạnh cùng lứa tuổi, cùng chiều cao, để theo kịp mức phát triển cần phải có. Sau nữa, về mặt lựa chọn thực phẩm, nguyên tắc là chọn thực phẩm hợp với khả năng tiêu hoá của trẻ và hợp với nhu cầu dinh dưỡng. Cố gắng lựa chọn tại chỗ thực phẩm giàu đạm, giàu nhiệt năng và có đủ lượng vitamin. Muối vô cơ bao gồm nguyên tố vi lượng (sắt, kẽm…) cũng được bổ sung cân bằng 1 cách thích đáng .

Điều chỉnh bữa ăn theo 4 mùa cho trẻ

Một năm 4 mùa, có đặc điểm xuân ấm, hè nóng, thu mát (ráo), đông lạnh ăn uống của trẻ cũng phải điều chỉnh thích hợp theo thiên thời .

Mùa xuân thời tiết từ lạnh chuyển sang ấm, vạn vật hồi sinh, là thời tiết dễ sản sinh các bệnh truyền nhiễm và viêm họng, yết hầu  về mặt ăn uống  phải chuyển từ cao lương hậu vị sang thanh ôn bình đạm. Ăn chính nên lựa chọn nhiều đến gạo tẻ, kê, đậu đỏ nhỏ hạt v.v… thực phẩm phụ nóng nhiệt như thịt bò, thị dê, thịt  gà không nên ăn quá nhiều. Mùa xuân có nhiều các loại rau xanh, ngoài việc phải chọn ăn loại rau tươi có lá xanh như rau cải trắng, rau dền, rau chân vịt… còn phải cho trẻ ăn thêm nước củ cải, kèm trộn thêm ít sợi củ cải. Như vậy có thể không những thanh nhiệt, mà còn có thể lợi cho yết hầu, họng, tránh được bệnh truyền nhiễm .

Lúc nào thì điều chỉnh bữa ăn 4 mùa cho trẻ?
Lúc nào thì điều chỉnh bữa ăn 4 mùa cho trẻ?

Mùa hè, thời tiết viêm nhiệt, nước trong người bị mất đi khá nhiều, thêm vào đó thích ăn nhiều đồ sống lạnh, chức năng dạ dày, ruột còn yếu, lúc này không những phải chú ý đến vệ sinh ăn uống, mà còn phải ăn ít đi thực phẩm dầu mỡ, nên ăn nhiều hơn các thành phần giàu đạm như thịt nạc, cá mú, thực phẩm chế từ đậu nành, trứng mặn, sữa chua v.v… còn có thể ăn thêm nhiều loại rau tươi và hoa quả .

Mùa thu, thời tiết khô ráo, cũng là mùa hoa quả nở rộ, nên ăn thực phẩm sinh tân dịch. Có thể cho con trẻ ăn lê, để tránh bị táo bón về mùa thu, còn phải chú ý ăn uống đa dạng các thực phẩm, không nên ăn quá nhiều thực phẩm sống lạnh .

Mùa đông, thời tiết giá lạnh, bữa ăn phải có đủ nhiệt năng, có thể ăn nhiều thực phẩm bổ dưỡng như thịt bò, thịt dê…, tránh ăn thức hàn lạnh như dưa hấu chẳng hạn, đồng thời phải ăn nhiều rau tươi có lá xanh và cam quýt v.v.. .

Những điều cần lưu ý khi cho trẻ ăn bổ sung

Lúc nào cần phải cho trẻ ăn bổ sung?

Trong cuộc sống thường ngày, ta thường thấy trẻ dưới 3-4 tháng dinh dưỡng khá tốt, còn sau 3-4 tháng đặc biệt là 6 tháng trở đi lên cân rất nhanh, đó là tại làm sao? Vì sữa tuy là loại thực phẩm dinh dưỡng lý tưởng của trẻ bú mớm, nhưng vì hàm lượng nước nhiều, nhiệt năng có hạn. Mỗi ngày, nếu trẻ có bú được 900 ml sữa mẹ cũng chỉ đạt được 2570,4 zilo Joule nhiệt năng không đủ cho trẻ trên 4 tháng tuổi. Cho nên bất kể là nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, hay là nuôi dưỡng bằng sữa ngoài đều phải cho ăn bổ sung sau 4 tháng tuổi .

Cho trẻ ăn bổ sung như thế nào?

Lúc nào cần phải cho trẻ ăn bổ sung? Cho trẻ ăn bổ sung như thế nào? Những điều cần lưu ý khi cho trẻ ăn bổ sung là gì?
Những điều cần lưu ý khi cho trẻ ăn bổ sung

Ăn bổ sung tức là bổ sung dinh dưỡng cho trẻ. Ăn bổ sung phải có đủ các chất dinh dưỡng quan trọng, gồm cả vitamin…, những thuốc chế bằng vitamin (như vitamin A, D…) không nằm trong phạm vi ăn bổ sung. Ăn bổ sung phải thích hợp với khả năng tiêu hoá của trẻ nhỏ, nên lúc đầu phải cho ăn đặc như hồ, không chứa xenlulô. Như trẻ 4 tháng tuổi trở lên, mỗi ngày có thể bổ sung ăn bánh sốp sữa hoặc cháo đặc 1 lần. Trẻ 6 tháng tuổi trở lên, chất sắt trong cơ thể tiêu hao dần, nên cho ăn thực phẩm giàu sắt, như lòng đỏ trứng, tiết gà v.v… Lúc này còn có thể cho ăn bổ sung thức ăn giàu vitamin C và muối vô cơ như rau đánh nhuyễn, nước hoa quả, bột cá v.vv.. Trẻ 7-8 tháng tuổi sắp mọc răng hoặc đã mọc răng có thể cho ăn bổ sung bánh bích quy, bánh mì miếng đã sấy khô để giúp cho sự phát triển của răng và rãnh răng. Ngoài ra, trong cháo đặc có thể tăng thêm chất béo (như mỡ lợn) vừa phải .

Những điều cần lưu ý khi cho trẻ ăn bổ sung là gì?

  • Căn cứ vào nhu cầu về tiêu hoá và dinh dưỡng của trẻ, tăng dần các loại thức ăn, trước tăng 1 loại, sau 3- 4 ngày đến 1 tuần đã thích ứng thì tăng thêm loại khác .
  • Thức ăn bổ sung phải từ ít đến nhiều, từ loãng đến đặc, từ nhạt đến đậm, tăng lên dần dần. Nếu trẻ không muốn ăn, không nên ép, sau vài ngày lại cho ăn thử .
  • Sau mỗi lần cho ăn bổ sung, phải chú ý tình hình tiêu hoá của trẻ, nếu thấy đại tiện không bình thường phải lập tức đình chỉ ngay. Chờ đến sau khi đại tiện đã phục hồi bình thường, lại bắt đầu cho ăn ít một .

Tìm hiểu thông tin về hệ tiêu hóa của trẻ

Hệ tiêu hóa của người

Hệ thống tiêu hoá gồm có đường (ống) tiêu hoá, tuyến tiêu hoá ăn thông với đường tiêu hoá. Đường tiêu hoá gồm có xoang miệng, họng, thực quản, dạ dày, ruột non ruột già và hậu môn. Tuyến tiêu hoá gồm có tuyến nước dãi, gan, tuyến tuỵ và cả tuyến dạ dày, tuyến ruột. Tuyến nước dãi gồm có 3 bộ phận là tuyến nước bọt tuyến dưới lưỡi và tuyến dưới hàm .

Hệ thống tiêu hóa của con người gồm có những cơ quan nào?
Hệ thống tiêu hóa của con người gồm có những cơ quan nào?

Gan là tuyến tiêu hoá lớn nhất trong cơ thể, cũng là cơ quan quan trọng chuyển hóa vật thể và giải chất độc trong cơ thể con người. Tuỵ là tuyến tiêu hoá quan trọng, đồng thời lại là tuyến nội tiết. Tuyến dạ dày gồm đáy vị và tuyến tâm vị .

Trong niêm mạc dạ dày lại có rất nhiều tế bào nội tiết quan trọng. Ruột non có rất nhiều tuyến thể nhỏ, tiết ra Ezym tiêu hoá và miễn dịch. Chức năng chủ yếu của hệ thống tiêu hoá là tiêu hoá thức ăn và từ đó hấp thụ chất dinh dưỡng, đồng thời tiết cặn bã thức ăn ra ngoài.

Đặc điểm hệ tiêu hóa của trẻ

  • Niêm mạc xoang miệng trẻ non mềm, nhiều huyết quản tuyến nước dãi của trẻ sơ sinh phát triển chưa hoàn thiện, lượng tiết nước dãi ít, cho nên niêm mạc xoang miệng khô ráo, thêm vào đó trẻ không biết giữ gìn xoang miệng, cho nên rất dễ bị tổn thương và xuất huyết.
  • Dạ dày còn nhỏ lượng tiết dịch dạ dày ít hơn của người lớn. Hàm lượng vị toàn và prôtein ở trong dịch dạ dày của trẻ bú mớm đều không bằng người lớn, cho nên số lần ăn uống mỗi ngày nhiều hơn của người lớn .
  • Hệ miễn dịch (hay gọi là prôtein hình cầu miễn dịch) tiết ra từ tế bào thượng bì niêm mạc ruột của trẻ nhỏ thấp (ít), cho nên dễ mắc bệnh viêm ruột nhiễm khuẩn hoặc nhiễm vi rút .
Hệ thống tiêu hóa của trẻ có những đặc điểm gì?
Hệ thống tiêu hóa của trẻ có những đặc điểm gì?
  • Tỷ lệ độ dài đường ruột với chiều cao của trẻ dài hơn 1 cách tương đối so với của người lớn, như vậy sẽ có lợi là tăng thêm diện tích tiêu hoá và hấp thụ thức ăn của đường ruột, đáp ứng được nhu cầu phát triển, trưởng thành của trẻ nhỏ. Nhưng ở trẻ, thành ruột mỏng, niêm mạc lại mềm, yếu, hàm lượng các loại Ezym trong dịch ruột ít hơn của người lớn, bất lợi cho việc hoàn thành chức năng tiêu hoá hấp thụ. Đồng thời, hệ mạc ruột dài mà mỏng yếu, dễ bị kéo dài ra, vì thế gây ra tình trạng ruột bị rối, bị xoắn nhiều hơn của người lớn .
  • Chức năng hệ thống thần kinh của trẻ phát triển chưa hoàn thiện, chức năng vận động và tiết dịch tiêu hóa của đường ruột dễ bị ảnh hưởng bởi các nhân tố trong và ngoài, khi các hệ thống khác mắc bệnh như sốt nóng, cảm cúm, viêm phổi đều có thể ảnh hưởng đến chức năng tiêu hoá của trẻ gây ra ăn uống kém nôn trớ hoặc đi tả .

Dạ dày của trẻ

Dạ dày của trẻ nhỏ luôn nằm ở mặt phẳng ngang (nằm ngang), tâm vị tương đối lỏng, tác dụng đóng mở kém, môn vị tương đối căng chặt, tác dụng đóng mở tốt cho nên sau khi bú, sữa bị trào ra hoặc nôn trớ. Dung tích giải phẫu của dạ dày là: trẻ sơ sinh 30-35 ml, lúc 1 tuổi 250-300 ml, lúc 2 tuổi 500 ml, lúc 4 tuổi 700ml.

Dạ dày trẻ nhỏ có những đặc điểm sinh lý giải phẫu gì?
Dạ dày trẻ nhỏ có những đặc điểm sinh lý giải phẫu gì?

Dung tích sinh lý của dạ dày nhỏ hơn dung tích giải phẫu, hiểu được dung tích của dạ dày có thể hướng dẫn, điều tiết sự bú mớm của trẻ. Thời gian tiêu hóa hết của dạ dày khác nhau tuỳ thuộc vào chủng loại thực phẩm: sữa mẹ cần 2-3 giờ, sữa bò cần 3-4 giờ, nước cần 1- 1,5 giờ. Vì tác dụng tiêu hóa ngắn. Dạ dày trẻ nhỏ tiết dịch là tương đối cố định, cho nên khoảng cách thời gian bú mớm không được quá ngắn cũng như quá dài.

Đường ruột của trẻ

Chiều dài tương đối của đường ruột trẻ nhỏ dài hơn của người lớn, tức là đường ruột trẻ sơ sinh dài gấp  8 lần chiều cao của trẻ, đường ruột của trẻ nhỏ gấp 6 lần chiều cao, đường ruột người lớn gấp 4,5 lần chiều cao, tỷ lệ chiều dài ruột già, ruột non cũng khác nhau trẻ sơ sinh là 1: 6, trẻ nhỏ là 1: 5, người lớn là 1: 4 cho nên, diện tích ống ruột trẻ nhỏ tương đối lớn, giúp cho đường ruột hấp thụ dinh dưỡng tốt .

Kết tràng và trực tràng (cận giáp trạng) tương đối dài, thành phần nước trong phân dễ bị hấp thụ quá nhiều, cho nên trẻ dễ bị bí tiện, khó đi ngoài .

Lớp cơ thành ruột trẻ nhỏ khá mỏng, huyết quản niêm mạc nhiều, tác dụng che chắn kém, chất độc tiêu hoá không hết và vi trùng gây bệnh dễ dàng lọt qua thành ruột để vào máu, cho nên trẻ nhỏ khi bị lây nhiễm đường ruột, dễ xuất hiện chứng bệnh trúng độc .

Trẻ nhỏ cũng giống như người lớn, có 3 phương thức vận động thành ruột. Nhu động: dồn nén đẩy thức ăn đã nghiền nát, tiến vào đường ruột theo sự vận động của ruột tăng mạnh lên, lại đẩy về cơ vòng môn vị rồi sau đó đẩy thức ăn xuống kết tràng. Vì dạ dày, kết tràng của trẻ nhỏ phản xạ tương đối nhanh nhạy nên sau khi ăn cơm, trẻ hay đi ngoài .

Đường ruột trẻ nhỏ có những đặc điểm sinh lý giải phẫu gì?
Đường ruột trẻ nhỏ có những đặc điểm sinh lý giải phẫu gì?

Trẻ trưởng thành và người lớn chỉ có hơi (khí thể) ở dạ dày và kết tràng, còn toàn bộ ống ruột của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đều có hơi (khí thể) cho nên phần bụng trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ đều luôn luôn no đầy, có lúc có thể nhìn thấy hình thù của ruột. Hệ mạc ruột của trẻ nhỏ khá dài, mức độ hoạt động khá lớn dễ bị rối ruột, xoắn ruột. Trực tràng cũng tương đối dài, niêm mạc, lớp dưới niêm mạc và lớp cơ phát triển chưa tốt, trực tràng cố dịnh không chắc chắn dễ bị lòi dom .

Ruột thừa trẻ nhỏ miệng mở lớn, dễ bị đẩy ra hết cho nên ruột thừa khó bị chứng viêm, nhưng thành ruột thừa mỏng, khi ruột thừa bị viêm dễ bị xuyên thủng .

Trước khi trẻ sơ sinh ra đời, trong đường tiêu hoá không có vi khuẩn, sau khi bú trong đường ruột mới có vi khuẩn, kết tràng nằm ở đoạn xa ruột non có nhiềụ vi khuẩn. Các đường trong sữa mẹ khá nhiều, cho nên trong đường ruột trẻ bú sữa mẹ thì trực khuẩn acid lactic chiếm ưu thế. Hàm lượng chất  đạm trong sữa có khá nhiều, cho nên trong đường ruột trẻ bú mớm sữa ngoài thì trực khuẩn ruột già chiếm ưu thế. Những vi khuẩn này tham gia vào quá trình phân giải một phần thức ăn, đồng thời có thể hợp thành vitamin K và vitamin B, có lợi cho thân thể .

Ngoài ra, trong ruột trẻ bú mớm sữa mẹ  thì những vật chất chứa trong đó có mang tính acid nên can xi, phot pho dễ được hấp thụ .

Điều chỉnh chức năng miễn dịch tăng cường được sức đề kháng chống bệnh nhờ vào ăn uống

Người ta tại sao lại mắc bệnh? Ngoài nhân tố di truyền ra, có quan hệ rất lớn với chức năng miễn dịch của cơ thể. Theo đà phát triển sâu sắc của công cuộc nghiên cứu Y học hiện đại người ta đã tìm ra 1 loại “gây nhiễu tố” (1 loại Facluor- nhân tử tế bào tiết ra sau khi tế bào bình thường của cơ thể bị lây nhiễm virut), có thể thông qua thụ thể để tác dụng vào tế bào miễn dịch ở cơ thể con người, tăng cường khả năng phòng ngự và sát thương virut ở hệ thống miễn dịch của cơ thể con người, có lợi cho việc phòng chống bệnh, bảo vệ sức khoẻ của con người .

Làm gì để nhờ vào ăn uống mà điều chỉnh được chức năng miễn dịch tăng cường được sức đề kháng chống bệnh?
Làm gì để nhờ vào ăn uống mà điều chỉnh được chức năng miễn dịch tăng cường được sức đề kháng chống bệnh?

Nhưng gây nhiễu tố loại Facluor (nhân tử) tế bào này lại tiết ra rất ít trong tế bào bình thường của cơ thể, tuy các nhà nghiên cứu khoa học đã áp dụng phương pháp nghiên cứu công trình gen để hợp thành ra gây nhiễu tố  (dùng để tiêm), nhưng công nghệ phức tạp, giá cả lại rất cao, chỉ có thể dùng làm thuốc điều trị một vài loại bệnh tật nào đó mà thôi, về sau này, các nhà nghiên cứu khoa học lại sáng chế ra một số loại thuốc nào đó dùng làm thuốc dụ sinh gây nhiễu tố, nhằm dẫn dụ, kích thích tế bào trong cơ thể con người sinh ra gây nhiễu tố để điều chỉnh chức năng miễn dịch, tăng cường khả năng chống bệnh .

Tại sao điều kiện sinh hoạt tốt mà trẻ nhỏ vẫn suy dinh dưỡng

Gọi là suy dinh dưỡng, tức là trẻ nhỏ thấp hơn 10% cân nặng tiêu chuẩn bình thường, độ dày mỡ bụng ít hơn 1, 8mm. Theo phương pháp đánh giá của tổ chức y tế thế giới, cân nặng của trẻ nhỏ (nhi đồng) phải tăng lên tương ứng theo chiều cao tăng trưởng, nếu thấp hơn 70% cân nặng phải tăng lên, là thuộc về suy dinh dưỡng. Ví dụ, chiều cao cứ tăng lên 1cm, cân nặng phải tăng 0,5 kg, nếu thấp hơn 0,35 kg, chính là suy dinh dưỡng .

Năm 1995  hội xúc tiến dinh dưỡng học sinh Trung Quốc đã tiến hành điều tra tình hình thể chất và sức khoẻ của học sinh Đại Trung  Tiểu học trong cả nước, nam sinh suy dinh dưỡng thiếu hệ số phát bệnh là 28,9%, nữ sinh suy dinh dưỡng thiếu hệ số là 36,1%. Số liệu điều tra năm 1991 cho thấy, nam sinh thành thị suy dinh dưỡng thiếu hệ số  phát bệnh là 33,4%, nữ sinh là 44,44%. Nam sinh nông thôn  suy dinh dưỡng thiếu, hệ số phát bệnh là 22,17%, nữ sinh là 35,78%, đều thấp hơn học sinh thành thị. Hiện nay Trung Quốc có 220 triệu học sinh học tại trường, cũng có nghĩa là có hơn 70 triệu học sinh suy dinh dưỡng, mặc dù là phần đông đều thuộc về suy dinh dưỡng loại nhẹ, nhưng có nguy hại tiềm ẩn đối với thanh thiếu niên đang ở độ tuổi trưởng thành. Vậy thì tại sao những năm gần đây điều kiện sinh hoạt đã được cải thiện mà vẫn có tỷ lệ khá cao cách nhi đồng bị suy dinh dưỡng như vậy.

Tại sao điều kiện sinh hoạt đã được cải thiện mà trẻ nhỏ vẫn suy dinh dưỡng
Tại sao điều kiện sinh hoạt đã được cải thiện mà trẻ nhỏ vẫn suy dinh dưỡng

1- Trẻ nhỏ suy dinh dưỡng: nguyên nhân chính là bú mớm không thoả đáng, sữa mẹ không đủ mà bổ sung bột thay sữa không đủ hoặc chủng loại thực phẩm không thích hợp. Trước khi cai sữa không cho ăn bổ sung thêm, làm cho cảm giác ăn giảm sút sau khi cai sữa. Các vấn đề liên quan trong cuốn sách này đã có giải đáp và các xử lý .

2- Nhi đồng suy dinh dưỡng: ngày trước thậm chí hiện nay ở những vùng nông thôn nào đó, có thể gây nên bởi ăn uống không đầy đủ kéo dài .

Ngoài việc bệnh mãn tính gây nên suy dinh dưỡng ra, học sinh tiểu học ở thành thị bị suy dinh dưỡng phần đông do chỉ thích ăn 1 vài thứ, khảnh ăn, hay ăn vặt gây ra. Có trẻ không thích ăn thịt, có trẻ không thích ăn rau xanh, có trẻ không thích ăn trứng gà, chất dinh dưỡng cung ứng không đủ, gây nên suy dinh dưỡng. Các cháu ngày nào cũng ăn vặt như tôm xiên, gà cuốn, rau cuốn, sô-cô- la, viên bi đường v.v… Thành phần của những quà vặt này chủ yếu là đường, mỳ chính, muối ăn, phẩm màu, gia vị v.v… không có chất dinh dưỡng bao nhiêu chỉ có thể tạm thời giảm cơn đói, làm cho ăn của trẻ nhỏ giảm đi khi ngồi vào 3 bữa chính, cơm canh hàng ngày trở thành lót dạ, trở thành ăn không ngon, ngày này qua ngày khác dần dà gầy còm đi, tạo ra suy dinh dưỡng ngoài ra, một số bậc cha mẹ quá tin vào lời quảng cáo của một vài thực phẩm dinh dưỡng nào đó, thường hay cho con cái uống nước si rô dinh dưỡng, đó cũng là một trong những nguyên nhân suy dinh dưỡng. Hiện nay trên thị trường nước ta có hơn 2000 loại si rô dinh dưỡng của Nhi đồng, theo sự kiểm tra của Cục giám định kỹ thuật Thượng Hải chỉ có 9,7% si rô dinh dưỡng là sản phẩm đạt tiêu chuẩn. Phần nhiều si rô dinh dưỡng chế thành từ đường pha với nước, bố mẹ thường hay cho con cái uống loại si rô bình này vì hấp thụ  nhiều chất đường mà ức chế đến ăn bình thường, gây nên biếng ăn, gây ra suy dinh dưỡng .

Nói tóm lại, muốn điều trị suy dinh dưỡng của trẻ nhỏ, phải bỏ thói quen khảnh ăn, chỉ thích ăn 1 vài thứ, hay ăn vặt, tạo thành sự ăn uống bình thường một ngày 3 bữa ngon lành, có như vậy trẻ ăn nhanh chóng trưởng thành, khôn lớn được .

Nên chọn thực phẩm và cách nấu như thế nào để chữa trẻ biếng ăn

1- Về mặt lựa chọn loại thực phẩm, nên ăn nhiều thực phẩm bổ tỳ trợ vận như sơn dược, đại táo, biên đậu, liên tử, phục linh v.v.. .

2- Về phương pháp nấu nướng, phải xem xét tới điểm sinh lý chức năng vận hoá của tỳ ở trẻ nhỏ còn chưa thành thục, nên dùng nước chất lỏng như dạng cháo loãng hoặc chất đặc hơn như canh, bánh nhão, bánh xốp, cháo đặc, ít dùng cách rán chiên để có lợi cho sự tiêu hoá, hấp thụ của tỳ vị .

Nên chọn thực phẩm và cách nấu như thế nào để chữa trẻ biếng ăn
Nên chọn thực phẩm và cách nấu như thế nào để chữa trẻ biếng ăn

3- Về thói quen ăn uống, cần chú ý điều hoà để trẻ nhỏ ăn uống được nhiều, ngon miệng, hết sức tránh ăn nhiều  7-12 tháng tuổi, cân nặng (g) – cân nặng lúc mới sinh + tháng tuổi X 500g. Sau 1 tuổi trung bình mỗi năm tăng khoảng 2 kg. 2- 10 tuổi, cân năng (kg) = số tuổi X 2 +8 kg .

Tính toán bằng công thức trên tìm ra cân nặng chỉ là số trung bình tương đối vì cơ thể trẻ nhỏ có sự khác nhau, phạm vi biến động của cân nặng trên dưới 10%, đều là tình hình bình thường .

Trẻ nhỏ không nên ăn uống những loại thực phẩm nào?

1- Trẻ nhỏ không nên uống trà: Trẻ nhỏ là lứa tuổi dễ mắc chứng thiếu máu do thiếu sắt, nếu lứa tuổi này thường xuyên uống trà, sẽ có thể gây nên hoặc làm nặng thêm thiếu máu do thiếu sắt. Vì trong lá chè xanh có chứa thành phần acid tannic, cho nên uống trà ảnh hưởng đến dạ dày đường ruột hấp thụ chất sắc từ máu do thiếu sắt. Những trẻ vốn đã mắc chứng thiếu sắt uống trà thường xuyên, sẽ ảnh hưởng đến đường ruột hấp thụ sắt trong thuốc uống, làm ảnh hưởng đến hiệu qủa điều trị cho nên trẻ nhỏ không nên uống trà .

2- Trẻ nhỏ không nên uống nước (sirô) hoa quả: nước hoa quả (si rô) hay nước ngọt là thực phẩm do con người pha chế ra, gồm có đường hoá học và phẩm màu hai thành phần này đều có hại cho thân thể, mà chức năng giải độc của gan và chức năng thải độc của thận ở trường hợp nhỏ đều còn khá yếu, nên ăn đường hoá học phẩm màu vào sẽ tích đọng lại làm hại thân thể .

Trẻ nhỏ không nên ăn uống những loại thực phẩm nào?
Trẻ nhỏ không nên ăn uống những loại thực phẩm nào?

3- Trẻ nhỏ chưa đầy nửa tuổi không nên ăn lòng trắng trứng đường tiêu hoá của trẻ nhỏ chưa phát triển thành thục, tính thông thấm của thành ruột tương đối cao, phân tử Albumin trong lòng trắng trứng lại tương đối nhỏ, có lúc có thể thấm qua thành ruột trực tiếp đi vào huyết dịch, cơ thể của trẻ dễ sinh ra phản ứng biến đổi trạng thái đối với phân tử Albumin dị ứng có thể mà sinh ra bệnh sởi và sốt phát ban. Qua độ tuổi này, tính thông thấm của thành ruột hạ thấp đi, hiện tượng bị dị ứng này sẽ giảm thiểu, bớt đi. Cho nên trẻ nhỏ chưa đầy nửa tuổi không nên ăn lòng trắng trứng .

4- Trường hợp nhỏ không nên ăn thức ăn quá mặn: chức năng thận của trẻ phát triển còn chưa thành thục, ăn mặn quá, ly tử Natri dễ tích đọng trong cơ thể, dễ bị huyết áp cao, càng phải đặc biệt chú ý đên trẻ nhỏ mà bố mẹ có bệnh sử huyết áp cao. Trẻ 1-2 tuổi, trong thức ăn cố gắng không cho muối ăn hoặc cho rất ít .

5- Trẻ nhỏ không nên ăn nhiều mỡ động vật: Trong mỡ động vật chứa nhiều acid Fatty bão hoà, nếu ăn vào nhiều quá, loại acid Fatty này sẽ trầm tích ở thành huyết quả, gây nên chứng sơ cứng động mạch  ở trẻ nhỏ. cho nên, trẻ ăn nhiều mỡ động vật thì mỡ trong máu, cholesterol trong máu thường tăng lên cao, trẻ nhỏ có bệnh gia truyền sơ cứng động mạch càng cần phải chú ý không nên ăn nhiều mỡ động vật .

6- Những thứ khác: Trẻ nhỏ không nên ăn nhiều mật ong, đồ uống lạnh và đường .

Chọn mua thực phẩm tăng chất cho trẻ như thế nào?

Hiện nay trên thị trường có bán rất nhiều loại thực phẩm tăng chất cho trẻ như sữa bột kẽm, sữa can xi AD mạch nhũ tinh thêm sắt v.v… , trước các loại thực phẩm làm hoa mắt như thế, các bậc cha mẹ lại không biết nên chọn mua loại nào. Vậy nên chọn mua cho con những loại thực phẩm này như thế nào đây? Trước hết, xin nói thế nào là thực phẩm tăng chất? Gọi là thực phẩm tăng chất tức là loại thực phẩm. Chất dinh dưỡng cho thêm vào trong thực phẩm môi giới. Như trong sữa bò điều chỉnh tỷ lệ can xi phốt pho, cho thêm vitamin A, D cho nguyên tố vi lượng sắt, kẽm để chế thành sữa bột gần giống như sữa mẹ, đó chính là thực phẩm tăng chất. Vitamin A, D, sắt kẽm, được tang them tức là thức tăng chất dinh dưỡng, còn sữa bò tức là thức phẩm môi giới. Sữa bột thường được pha chế giống sữa mẹ so với sữa bò chưa tăng chất thì giá trị dinh dưỡng cao hơn, càng thích hợp để nuôi dưỡng trẻ nhỏ .

Khi lựa chọn thực phẩm tăng chất cho trẻ, bố mẹ cần tuân theo các nguyên tắc sau đây:

Chọn mua thực phẩm tăng chất cho trẻ như thế nào?
Chọn mua thực phẩm tăng chất cho trẻ như thế nào?

1- Căn cứ vào đặc điểm cơ cấu ăn uống của trẻ ở các độ lứa tuổi mà chọn mua: Như trong bữa ăn của trẻ nhỏ ở nước ta dễ bị thiếu chất đạm, can xi, sắt, kẽm và Vitamin A, D, thế nên trẻ ở lứa tuổi này dễ bị thiếu dinh dưỡng, thiếu máu do thiếu sắt và mắc bệnh còi xương ở mức độ khác nhau và kể cả chậm lớn, chậm phát triển vì thiếu nhiều loại chất dinh dưỡng. Bởi vậy  bố mẹ nên chọn mua cho con sữa bột hoặc bột thay sữa đã được tăng chất dinh dưỡng như nói ở trên .

2- Trước khi chọn mua phải hiểu lượng tăng thêm của thuốc tăng chất dinh dưõng có hợp lý không: lượng tăng thêm của chất dinh dưỡng không nên vượt quá nhu cầu sinh lý. Như lượng tăng thêm 1 ngày của vitamin A là 1.000 đơn vị quốc tế, vitamin D là 400 đơn vị quốc tế, lượng tăng thêm 1 ngày của can xi là  800 mg, sắt là 15 mg, kẽm là 10 mg, lượng tăng quá lớn, dễ  bị trúng độc mãn tính lượng tăng chất quá nhỏ, lai không đạt được mục đích tăng chất .

3- Thực phẩm môi giới có thích hợp không: thực phẩm môi giới phải là thực phẩm thích hợp với trẻ nhỏ, như các loại chế phẩm từ sữa, bột thay sữa, các thực phẩm pha chế cho trẻ nhỏ v.v… là có hiệu quả tốt nhất .

Sau cùng, cần phải chú ý xem trong thuyết minh giới thiệu của thực phẩm tăng chất có lượng tăng chất của mỗi loại chất dinh dưỡng hay không, rồi đối chiếu với lượng cần tăng thêm, sau đó chọn mua thực phẩm tăng chất thích hợp với con mình .

Trẻ thường xuyên ăn thực phẩm rán có tốt không?

Thực phẩm rán (đồ rán) có rất nhiều loại, ròn thơm ngon miệng, trẻ đều rất thích ăn, cho nên bố mẹ hay mua cho con cái, thậm chí có những bố mẹ coi quẩy rán, bán rán, bánh vừng rán, viên bi rán như thức ăn sáng cạn có sẵn. Thực phẩm nhân thịt rán vì mùi thơm hấp dẫn, nên trẻ nhỏ càng lấy làm khoái thích. Nhưng xét về mặt vệ sinh và dinh dưỡng thì thường xuyên ăn thực phẩm rán đối với cơ thể trẻ nhỏ mà nói thì hại nhiều, lợi ít .

Trẻ thường xuyên ăn thực phẩm rán có tốt không?
Trẻ thường xuyên ăn thực phẩm rán có tốt không?

Chất béo trong thực phẩm rán rất cao, đọng lại trong dạ dài lâu, khó tiêu hoá, hấp thụ. Thực phẩm rán tăng nhiệt độ cao, vitamin bị phá huỷ nghiêm trọng hơn nữa còn sinh ra chất có độc, 1 chảo mỡ dùng đi dùng lại nhiều lần, còn có thể sinh ra chất dẫn đến ung thư. Ngoài ra, trong quá trình rán, thường cho thêm phần chua hoặc kali phèn chua làm thuốc nỏ sốp, hai loại thuốc này đều có thành phần nhôm. Nhôm là nguyên tố lưỡng tính, có nghĩa là nhôm đều có thể phản ứng đối với acid, đối với kiềm. Sau khi phản ứng hình thành chất hỗn hợp dễ bị đường ruột hấp thụ, đồng thời có thể đi vào đại não, ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ của trẻ nhỏ. Cho nên, cần phải hạn chế trẻ nhỏ ăn thực phẩm rán .

Trẻ nhỏ thường xuyên ăn của ngọt có tốt không?

Trẻ nhỏ thích ăn của ngọt, đó là bẩm sinh vì khi trẻ mới sình đã thích ăn của ngọt. Lớn dần lên theo năm tháng, trẻ nhỏ lại càng thích ăn của ngọt. Bố mẹ muốn cho con ăn được nhiều, trong cháo cũng cho thêm chút đường trắng muốn cho con uống được thuốc thường cũng động viên con ăn thêm cái kẹo, con bị ho bố mẹ lại hay mua thuốc cao thu lê cho trẻ, mà thuốc này có hàm lượng đường rất cao họ hàng bạn bè đến mua quà cho trẻ, không phải là kẹo thì là nước ngọt, bánh bích quy. Như vậy dần dà gây cho trẻ thói quen xấu không cho kẹo không ăn cơm .

Chúng ta đều biết, trẻ sinh trưởng, phát triển cần đến rất nhiều chất dinh dưỡng, không chỉ cần có đường, càng cần phải có chất đạm, chất mỡ, chất muối vô cơ, vitamin. Trẻ ăn nhiều đường rồi, ăn sẽ kém, đến bữa ăn chính không muốn ăn cơm, các chất dinh dưỡng ngoài đường ra thì hấp thụ rất ít, tạo ra ăn uống không cân bằng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự trưởng thành, phát triển của trẻ nhỏ .

Trẻ nhỏ thường xuyên ăn của ngọt có tốt không?
Trẻ nhỏ thường xuyên ăn của ngọt có tốt không?

Trẻ thích ăn của ngọt thì da trắng, người béo, thịt nhão, có khi cân nặng còn vượt quá cân nặng tiêu chuấn, nhưng cơ thể không vững chắc, béo như vậy là  béo bệu, khả năng chống bệnh kém, thường dễ mắc bệnh, lây nhiễm .

Trong xoang miệng chúng ta có rất nhiều vi khuẩn, cá thể lên men của vị ngọt tồn đọng lại trong khoang miệng sinh sản ra rất nhiều acid hữu cơ, xâm thực vào chất men và chất xương bên ngoài răng, làm cho răng bị sún, cho nên trẻ nhỏ thường xuyên ăn của ngọt thì chuốc lấy trăm cái hoạ mà không được một cái lợi nào.