Một số lưu ý ăn uống trong khi mang thai

Rate this post

Thịt thỏ

Có người cho rằng, khi mang thai, phụ nữ không nên ăn thịt thỏ, bởi vì ăn thịt thỏ thì nhất định sẽ sinh ra trẻ “sứt môi”. Điều này không có cơ sở khoa học. Y học gọi “sứt môi” là hở hàm ếch, bệnh này là do người mẹ bị ảnh hưởng bởi một nhân tố nào đó khiến trẻ bị dị tật, mà không hề liên quan gì tới thịt thỏ.

Thịt thỏ có đặc điểm: nhiều protein, ít mỡ, cholesteron thấp. Nó chứa khoảng 21.5% protein, nhiều hơn gấp đôi thịt lợn, hơn 18.7% thịt bò, gần gấp đôi thịt dê, hơn 33% thịt gà. Mỡ trong thịt thỏ khoảng 3.8%, bằng 1/16 lần mỡ trong thịt lợn, 1/15 so với thịt bò, 1/7 so với thịt dê. Hàm lượng cholesteron trong thịt thỏ thấp hơn mọi loại thịt. Thịt thỏ còn chứa nhiều dịch nhầy, nó không thể thiếu đối với sự phát

triển của não và các tể chức thần kinh khác ở người. Thịt thỏ non, tổ chức kết đế ít, chất xơ nhiều, dễ tiêu hóa hơn so với thịt lợn, thịt bò, thịt dê và thịt gà, thịt thỏ là một loại thịt thích hợp cho phụ nữ mang thai. Do vậy, phụ nữ mang thai có thể yên tâm ăn thịt thỏ.

Lưu ý ăn uống khi mang thai

Lẩu

Lẩu là một món ăn ngon được mọi ngưòi yêu thích, đặc biệt khi thời tiết se lạnh, bạn bè ngồi tụ tập quanh nồi lẩu vừa thưởng thức hương vị đậm đà của thức ăn vừa tán chuyện gẫu, quả là một kiểu hựởng thụ. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai cần hết sức chú ý khi ăn lẩu, đề phòng “họa từ nồi lẩu mà ra”

Trước hết, phụ nữ mang thai cần đề phòng sán toxoplasmosis, bởi vì nguyên liệu của nồi lẩu đa phần là thịt dê, thịt bò, thịt lợn sống. Trong những lát thịt sống này rất có thể ẩn chứa ấu trùng gây bệnh cong thể hình. Cong thể hình là một loại kí sinh trùng gây bệnh truyền nhiễm ở người, gia súc và gia cầm. Tỷ lệ truyền nhiễm cong thể hình ở dê là 61.4%, lợn là 20.6%, bò là 13.2%. Toxoplasmosis sống kí sinh trong tế bào động vật bị bệnh này, chúng ta không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Thói quen ăn lẩu của con người là nhúng những lát thịt tươi non vào trong nổi lẩu, chỉ cân tái là đã ăn được, mà trong thời gian ngắn ngủi như vậy, ấu trùng không thể bị giết chết. Nếu chúng ta ăn những lát thịt đã bị nhiễm bệnh vào người, Toxoplasmosis chưa bị giết chết này sẽ vào ruột, xuyên qua thành dạ dày, theo máu phân tán khắp cơ thể. Phụ nữ mang thai lại không cảm nhận thấy bệnh này, có khi chỉ biểu hiện như một kiểu cảm lạnh, song ấu trùng lại có thể qua cuống rốn truyền nhiễm sang thai nhi, trường hợp nặng còn dẫn tới sảy thai, chết lưu hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển não thai nhi, thai nhỉ có thể bị dị tật như đầu bé, đầu to (não tích nước), không có não, 60% thai nhi có thể mắc bệnh này. Ngoài chết lưu, dị hình hoặc dẫn tới hiện tượng sảy thai ra thì khoảng 70% thai nhi nhiễm bệnh khi sinh ra vẫn bình thường, song do tổ chức tế bào bị tổn thương, phải vài năm hoặc 10 năm sau mới phát bệnh, biểu hiện là trí lực chậm phát triển; cũng có thể bị mù do viêm màng mạch trong mắt.

Thứ 2 là, phụ nữ mang thai cần đề phòng trúng độc khí than. Khi ăn lẩu trong nhà thường xảy ra hiện tượng trúng độc khí than, kết quả là, bữa ăn còn chưa kết thúc đã thấy đau đầu, chóng mặt, ù tai, hoa mắt, tay chân rã rời, thậm chí buồn nôn, nôn mửa. Những triệu chứng kể trên, nhiều người cứ tưởng là trúng độc thức ăn. Kì thực, lại là trúng độc khí than ô-xit cacbon bốc ra từ than vào cơ thể người thì khả năng nó kết hợp với huyết sắc tố mạnh hơn 270~300 lần so với khả năng khí oxi kết hợp vói huyết sắc tố, hơn nữa không dễ phân giải sau khi kết hợp, từ đó khiến máu mất khả năng vận chuyển oxi. Khi trong không khí có khoảng 0.06% ô-xít cacbon thì con người chỉ cần thở trong 1 tiếng đồng hồ sẽ bị trúng độc; Nếu nồng độ đạt 0.32% thì chỉ cần 30 phút, con người đã bị hôn mê, thậm chí tử vong. Khi ăn lẩu, vừa ăn vừa trò chuyện, than liên tục được cho thêm vào lò, khi than vừa cho vào hoặc khi lửa gần tắt là lúc sản sinh ra nhiều ô-xít cacbon nhất. Do vậy, khi ăn lẩu bằng bếp than trong nhà, nhất định cần chú ý, sau khi bếp bốc cháy mới được đặt lên bàn, ngoài ra, không nên ăn quá lâu, mở cửa sổ cho khí thông thoáng.

Thứ 3, phụ nữ mang thai cần đề phòng trúng độc gỉ đồng. Nồi lẩu được chế tạo từ đồng vàng và đồng tím & một thời gian thường sinh ra một lớp gỉ đồng màu xanh gọi là màu xanh gỉ đồng. Thành phần chủ yếu của nó là đồng axit cacbonic mang tính kiềm, có độc. Nếu nồi lẩu có gỉ mà không được cọ sạch sẽ, gỉ đồng sẽ hòa lẫn vào thức ăn sau khi ăn thức ăn vào, cơ thể người sẽ bị trúng độc gỉ đồng xuất hiện triệu chứng buồn nôn, nôn, nghiêm trọng còn bị mất nước, cơ thể rã rời. Ngoài ra, bị gỉ đồng kích thích trực tiếp, còn có thể khiến khoang miệng, đường dẫn thức ăn niêm mạc dạ dày nóng bỏng, bục nát. Có người còn tiểu ra máu, thiếu máu, vàng da,… Khi thấy có triệu chứng trúng độc gỉ đồng, kịp thời tới bệnh viện ngay. Để phòng chống trúng độc gỉ đồng, cần cọ rửa sạch sẽ nồi lẩu trước khi sử dụng. Cho một chút muối ăn vào giẻ có tẩm dấm rồi cọ, hiệu quả càng tốt.

Thịt cá thơm ngon, được mọi người yêu thích. Vì sao vậy? Xét từ góc độ dinh dưỡng, thịt cá chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết.

Lưu ý ăn uống khi mang thai - Lợi ích khi ăn cá

Hàm lượng protein trong cá không chỉ nhiều (khoảng 15%~20%) mà còn rất chất lượng, hàm lượng axit amin cần thiết trong nó có giá trị sánh ngang với người. Bởi vậy protein trong các loại cá tốt hơn bất cứ loại thịt nào. Ngoài  ra, thịt cá mềm, được tạo thành từ các thớ thịt mảnh, giữa các thớ thịt có tương đối nhiều chất kết keo mang tính hòa tan, sau khi hấp thụ chỉ mất đi 10~30% lượng nước, ít hơn 20-40% so với các loại thịt khác. Do vậy, cơ thể người có thể tiêu hóa và hấp thu thịt cá dễ dàng, thông thưòng, tỉ lệ tiêu hóa hấp thu đạt tới 96%

Hàm lượng mỡ trong cá thấp, chỉ khoảng 1~3%, chỉ có một số loại cá đặc biệt có hàm lượng mỡ cao, như mỡ của cá thì chiếm tôi 17%. Tuy nhiên, mỡ của cá đa phần là axit béo không bão hòa, chiêm hơn 80%. Không chỉ dễ tiêu hóa, hấp thu so với mỡ của các loại thịt khác, hơn nữa kết cấu hóa học cá cũng khác với các loại thịt khác chuỗi cacbon của axit béo không bão hòa tương đôi dài, có tác dụng rất tốt trong việc làm giảm cholestẹron.

Lượng muối vô cơ trong cá phong phú, trong đó photpho và kali tương đối nhiều, ngoài ra còn có đồng, cá biển còn chứa iốt, cô ban, flu-or.  Canxi trong cá cũng nhiều hơn các loại thịt khác. Đặc biệt cá nhỏ rán giòn, ăn được cả đầu, hàm lượng canxi càng cao.

Vitamin trong cá cũng tương đối nhiều. Ngoài chứa một ít hàm lượng vitamin Bi, vitamin B2, vitamin B12, cá còn chứa tương đối nhiều vitamin hòa tan trong mỡ, đặc biệt là hàm lượng vitamin A, vitamin D vô cùng phong phú, đỉều này có lẽ không một loại thịt nằo có thể sánh bằng.

Ngoài ra, các nhà khoa học phát hiện thấy ăn nhiều cá, có thể làm thay đổi tình trạng cơ thể người mẹ không cung cấp đủ máu cho cuống rốn. Máu được đưa tới cuống rốn chủ yếu vào động mạch xoắn ốc xuất phát từ màng trong tử cung. Có khoảng 100-150 động mạch xoắn ốc phân bố trong cuống rốn. Cùng với sự phát triển ngày một to ra của cuống rốn theo tuần thai, động mạch xoắn ốc cũng rộng dần theo như vậy mới có thể đảm bảo cho việc hấp thu đầy đủ dinh dưỡng của thai nhi. Ngược lại, có thể khiến cuống rốn không được cung cấp đủ máu, thai nhi phát triển. Khi động mạch xoắn ốc bị tắc, bị thu hẹp mang tính bệnh lý hoặc khi tắc động mạch thì có thể khiến thai nhi không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, dẫn tới tử vong. Axit béo không bão hòa trong cá có hoạt tính của nhiều loại dược lý, có thể ức chế sự sinh sôi của chất thúc đông máu A2, khiến độ nhầy của máu giảm, chất chống máu đông tăng, những hoạt tính này có tác dụng phòng chống tắc động mạch. Axit béo không bão hòa còn có thể khiến huyết quản giãn ra, từ đó khiến tĩnh mạch xoắn ốc nở rộng, đủ để vận chuyển chết dinh dưõng cần thiết tới thai nhi, thúc đẩy thai nhi phát triển. Photpho và lượng lớn axit amin trong cá còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của hệ thống thần kinh trung ương của thai nhi.

Do vậy, có thể thấy rằng, phụ nữ mang thai ăn nhiều cá sẽ có lợi cho sự phát triển của thai nhi.

Rong biển

Rong biển là một loại tảo sống trong biển.

Lá của nó rộng 20~50cm, dài 2~7m, có hình dạng thân dài giông cây rong nên gọi là rong biển.

Rong biển có giá trị dinh dưỡng cao, cứ 100g rong bien khô có chứa 8.2g protein, 0.1g mỡ, 57g đường, sản sinh ra 260kg calo. Rong biển còn chứa rất nhiều muối vô cơ và vitamin. Đặc biệt, hàm lượng iốt trong rong biển rất cao, chiếm 0 3~0.7%, cao gấp 1 triệu lần so với nước biển. Thường xuyên ăn thức ăn có chứa iốt có lợi trong việc chữa trị những h viêm mãn tính, iốt còn là nguyên liệu chính hợp thành tố tuyến giáp trạng,  thường xuyên ăn rong biển có thể bổ sung iốt cho cơ thể mẹ, đề phòng trẻ mắc chứng đần độn.

Cua

Thịt cua tươi ngon, dinh dưỡng phong phú, hàm lượng protein và mỡ trong cua cao, các chất như canxi, photpho, sắt, vitamin cũng tương đối nhiều. Cứ 500g cua có chứa 49.6g protein 9.3g mỡ, 27.2g hydro cacbon, 1.088mg photpho, 33 6mg sắt và vitamin A. Cua vừa là thức ăn bổ dưỡng, lại rất ngon miệng, dễ ăn, được nhiều ngưòi ưa thích. Nhưng cua lại không thích hợp đối với phụ nữ mang thai.

Có nên ăn cua khi mang thai không
Có nên ăn cua khi mang thai không

Cua không chỉ là thức ăn, mà còn là thuốc. Chúng ta thường gặp, có cua đá, cua biển, cua hồ, cua sông, cua ngòi,… Đa phần cua được dùng làm thức ăn, cua sông được sử dụng làm thuốc nhiều nhất. Theo ngựời xưa, cua có thể chữa bệnh gẫy xương, tụ huyết và khó đẻ, thúc thai ra mau, tụ huyết sau khi sinh của phụ nữ mang thai. 50g càng cua, đổ nước, rượu vàng sắc lên, cho thêm a giao, là được thuốc thúc đẻ mau.

Do vậy, phụ nữ mang thai cần nhớ dược tính của cua, không nên ăn cua. Những phụ nữ mang thai hay bị sảy thai càng cần cấm kị.

Trà xanh

Có nên uống trà xanh khi mang thai không
Có nên uống trà xanh khi mang thai không

Có rất nhiều loại trà: trà xanh, trà mạn, trà lipton… mỗi loại có công dụng riêng. Tuy nhiên đối với phụ nữ mang thai, uống trà nảo có lợi cho cơ thể thì cần tìm hiểu.

Theo điều tra nghiên cứu, trà xanh có chứa nhiều vitamin C, nguyên tố kẽm, đặc biệt, hàm lượng kẽm trong trà xanh không một loại trà nào sánh bằng. Đã có thí nghiệm chứng minh, trong trà lipton và cà phê hầu như không chứa kẽm.

Kẽm là một trong những nguyên tố vi lượng không thể thiếu đối với cơ thể người. Kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy, hàm lượng kẽm trong cơ thể phụ nữ mang thai có liên quan trực tiếp tối sự phát triển của thai nhi. Nếu cơ thể phụ nữ mang thai thiếu kẽm thì nhất định sẽ khiến thai nhi chậm phát triển và có di tật bẩm sinh, đặc biệt dị tật ở hệ thống thần kinh trung ương  như phần đầu, xương sống. Phụ nữ mang thai thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng tới kết cục và toàn bộ quá trình mang thai, như cơ thể phụ nữ mang thai bị nhiễm bệnh, xuất huyết nhiều khi đẻ, thai nhi bị chèn ép, ra sớm hoặc chết lưu, sảy thai, hay mắc các bệnh như hội chứng huyết áp cao thai nghén… đều liên quan tới phụ nữ mang thai thiếu kẽm. Theo điều tra quan sát, những phụ nữ mang thai thiếu kẽm trong máu ỏ thời kì đầu mang thai và tiếp tục duy trì tình trạng này thì tỉ lệ mắc các bệnh sản khoa và thai nhi bị dị tật đạt 74%; Những phụ nữ mang thai được bổ sung kẽm, kẽm cân bằng trong cơ thể thì tỉ lệ mắc bệnh là 37%.

Phụ nữ mang thai cần hấp thu nhiều kẽm từ bữa ăn hàng ngày. Ngoài những thức ăn mang tính thực vật như vừng, ngô, lúa mì, đậu tương, lạc,… những thức ăn mang tính động vật như thịt bò, lợn, dê, đầu cá,… chứa nhiều kẽm được hấp thụ từ 3 bữa ăn hàng ngày ra thì có thể bổ sung thêm kẽm bằng cách uống trà xanh, đây là một cách lí tưởng.

Tóm lại, phu nữ mang thai nên có thói quen uống trà xanh, điều này không chỉ có lợi cho sức khỏe của bà mẹ mà còn giúp ích cho sự phát triển của thai nhi. Bởi vậy, 30 phút hoặc 1 tiếng sau bữa cơm, tốt nhất phụ nữ mang thai nên uống một cốc trà xanh.

Ăn kiêng

Một số phụ nữ mang thai trẻ tuổi, sợ béo khi mang thai, ảnh hưởng tới vẻ đẹp của cơ thể sau khi sinh, hoặc sợ thai nhi quá mập, phải mổ vì không đẻ thường được, nên đã ăn uống kiêng khem, ăn ít đi. Cách làm này hiển nhiên vô cùng có hại.

Sau khi mang thai, sự trao đểi chất diễn ra ở phụ nữ mang thai vô cùng mãnh liệt, cùng với đó là hàng loạt các thay đổi của những cơ quan và bộ máy có liên quan tới việc mang thai, túi dinh dưỡng của thai nhi – tử cung, tăng thêm 670g, ngoài ra còn cần dự trữ lượng mỡ 4500g, thai nhi nặng 3000~4000g, cuống rốn và nước ối nặng 900~1800g. Trong suốt quá trình mang thai, phụ nữ mang thai sẽ nặng hơn với trước khi mang thai khoảng 11kg. Vậy thì hãy nghĩ phụ nữ mang thai sẽ cần hấp thu bao nhiêu chất dinh dưỡng.

Phụ nữ mang thai cần dinh dưỡng, thai nhi cũng cần hấp thu dinh dưỡng từ cơ thể mẹ, vậy có nên ăn kiêng trong tình hình này không?

Không đủ dinh dưỡng sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng cho thai nhi, như thiếu protein sẽ ảnh hưởng tới sự sinh sôi nảy nở của tế bào thần kinh, khiến trí lực kém; Thiếu muối vô cơ, nguyên tố như canxi, photpho sẽ ảnh hưỗng tới sự phát triển của xương, răng, dẫn tới bệnh mềm xương; Thiếu vitamin, khả năng miễn dịch giảm, ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể, thậm chí có thể dẫn tới phát triển không toàn diện; Thiếu mỡ, nguồn năng lượng bổ sung cho tim, gan giảm rõ rệt, sẽ không chịu được những cơn co bóp tử cung khi sinh, sau khi sinh còn có thể xuất hiện triệu chứng đường huyết thấp và khó thở. Thiếu dinh dưỡng càng tăng thêm nguy hại đối với cơ thể phụ nữ mang thai, thiếu protein thì không thể thích ứng với sự biến đổi của tử cung, cuống rốn, tổ chức tuyến sữa, đặc biệt trong thời kì mang thai, lượng protein huyết tương giảm thấp, gây phù thũng, khiến sự hợp thành kháng thể giảm, bởi vậy khả năng miễn dịch kém, dẫn tới mắc nhiều bệnh. Thiếu canxi sẽ khiến xương mềm, lưng chân đau mỏi. Thiếu sắt, dẫn tới thiếu máu, đầu óc chóng váng. Thiếu vitamin A dễ đẻ non, thai chết lưu, ngoài ra sức đề kháng của cơ thế giảm sẽ dễ mắc bệnh truyền nhiễm sau khi sinh. Thiếu vitamin B1 sẽ ảnh hưởng tới ham muốn ăn và bài tiết sữa, ngoài ra, làm nặng thêm bệnh phù chân, dễ dẫn tới bệnh tê phù- Thiếu vitamin c, sẽ làm nặng thêm bệnh táo bón, thiếu máu và dễ dẫn tới sảy thai, đẻ sớm; Chất xơ và nước cũng không thể thiếu.

Từ đó có thể thấy, phụ nữ mang thai không thể tùy ý kiêng khem, nếu không sẽ dẫn tới thiếu một loại chất dinh dưỡng nào đó hoặc mất sự cân bằng giữa các chất dinh dưỡng. 5 tháng sau khi mang thai, mỗi ngày ít nhất cần 2700~2800 kg calo, có thể hấp thu từ trong bữa ăn. Cần bảo đảm đủ lượng protein (mỗi ngày hấp thu 85g, hơn 15g so với người bình thường), lượng mỡ, đường, canxi, sắt, vitamin thích hợp, ăn nhiều thịt gà, trứng, cá, thịt nạc, gan lợn và các loại sữa, các loại đậu, lượng thực, rau tươi, hoa quả và đồ biển. Phải lên thực đơn một cách hợp lý, không được lựa chọn món ăn, ăn thiên về một loại, như vậy mới có thể thỏa mãn nhu cầu trong thời kì mang thai.

Lo sợ đẻ khó mà ăn kiêng khem là đỉều trái với khoa học. Bởi lẽ, đẻ khó, đẻ ngược chủ yếu là do phản ứng thai nhi không tốt, khi qua đường sinh sản không thể quay mình một cách có phản xạ. Đẻ khó không phải do thai nhi quá to, mà là thần kinh phát triển không tốt gây ra.

Gia vị có tính nóng

Những gia vị như hồi, quế, hạt tiêu, ớt, ngũ vị hương,… đều là những hương liệu có tính nóng, không thích hợp cho phụ nữ mang thai. Khi mang thai, nhiệt độ cơ thể của phụ nữ mang thai tăng lên tương ứng, ruột cũng khá khô. Trong khi đó những gia vị nói trên có tính kích thích, rất dễ làm tiêu hao lượng nước ở đường ruột, khiến sự bài tiết giáp thể ở dạ dày giảm, dẫn tới bệnh táo bón, phân khô cứng. Khi ra hiện tượng như vậy, phụ nữ mang thai phai mất sức đại tiện, như vậy sẽ gây áp lực cho vùng bụng, ép chặt thai nhi trong tử cung, khiến thai nhi cử động bất an, thai nhi phát triển dị hình, màng ối rách sớm, tự khắc gây ra những hậu quả không tốt như sảy thai, đẻ non.

Ăn vặt

Trong khi mang thai, dạ dày của phụ nữ mang thai vô cùng mẫn cảm với các kích thích nóng, lạnh. Ăn nhiều đồ lạnh có thể khiến huyết quản dạ dày đột nhiên thu nhỏ, sự bài tiết dịch dạ dày giảm, chức năng tiêu hóa giảm, từ đó dẫn tới chán ăn, tiêu hóa kém, đau bụng đi ngoài, thậm chí da dày co giật, xuất hiện triệu chứng đau bụng kịch kiệt.

Niêm mạc đường hô hấp như mũi, họng, khí quản của phụ nữ mang thai thường ứ máu và nước, nếu ăn, uống quá nhiều đồ lạnh, huyết quản đang ứ máu đột nhiên thu nhỏ lại, máu sẽ giảm bớt, khiến sức đề kháng giảm, lúc này khuẩn và vi rút gây bệnh đang “phục” sẵn trong họng, khí quản, khoang mũi, khoang miệng “thừa cơ” xông vào, gây bệnh đau họng, ho, đau đầu, nghiêm trọng còn dẫn tới viêm nhiễm đường hô hấp, viêm amidan.

Có người phát hiện, thai nhi trong bụng cũng rất mẫn cảm đối với những kích thích lạnh, khi phụ nữ mang thai uống nước lạnh hoặc ăn đồ lạnh, thai nhi cũng sẽ bứt rứt không yên trong tử cung, cử động liên tục. Do vậy, phụ nữ mang thai nhất định cần hạn chế ăn đồ lạnh.

Đường đỏ

Sau khi mang thai, người mẹ phải đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cho cơ thể mình và thai nhi, đồng thời phải bài tiết chất thay thế cho cả hai người, do vậy, dung lượng máu tăng cao (tăng khoảng 50% khi mang thai ở tháng thứ 7-8), mà lượng hồng cầu lại tăng chậm, chỉ khoảng 20%, bởi vậy hàm lượng huyết sắc tố giảm thấp, điều này gọi là thiếu máu sinh lý trong thời gian mang thai. Để ngăn chặn tình trạng thiếu máu, nhất thiết cần bổ sung những thức ăn chứa nhiều sắt. Ngoài ra, thai nhi trong cơ thể mẹ cũng cần tạo máu, sự phát triển các cơ bắp đòi hỏi tiêu hao một ít sắt, gan thai nhi cũng cần dự trữ một phần sắt, để chuẩn bị cho sau khi sinh. Để phụ nữ mang thai và thai nhi khỏe mạnh, ngoài việc tăng cường protein và lượng calo ra, phụ nữ mang thai còn cần bổ sung đủ muối vô cơ như canxi, photpho, sắt. Đường đỏ không chỉ có thể cung cấp lượng calo mà hàm lượng canxi, sắt trong nó cũng rất phong phú, do vậy phụ nữ mang thai ăn đường đỏ với lượng thích hợp rất có ích.

Lượng canxi trong đưàng đỏ cao gấp 3 lần so với đường cát; Lượng sắt trong đường đỏ cao gấp 2 lần so với đường cát, gấp 3 lần so với đường tinh thể, mà canxi và sắt đều là chất dinh dưỡng cần thiết cho phụ nữ mang thai. Đường đỏ còn chứa carotin, vitamin B1… mà trong đường trắng không có, những chất này cũng đều là chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với phụ nữ mang thai.

Ngoài ra, đường đỏ còn có tác dụng ích khí, tiêu hóa tốt khỏe tì ấm vị,… có lợi cho sức khỏe.

Dầu thực vật

Hàm lượng axit béo trong dầu thực vật phong phú, đặc biệt là những axit béo cần thiết (axit linoleic, axit Arachidonic). Những axit béo cần thiết này không thể hợp thành trong cơ thể người, phải được hấp thu từ trong thức ăn. Chúng có chủ yếu trong đậu tương, dầu vừng, dầu lạc, dầu hạt quì.

Axít béo cần thiết là chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với cơ thể. Sự hình thành và trao đổi chất của tế bào da trong cơ thể không thể thiếu những axit béo này. Khi thiếu chúng sẽ khiến da khô ráp, dầy lên, lông mọc xơ xác. Axít ần thiết là nguyên ũệu hợp thành mõ photpho và tố tiền bệt tuyết nỏ còn c6 thể làm giảm lượng cholesteron trong máu, giảm hiện tượng xơ cứng động mạch. Trong thời gian mang thai nếu cơ thể mẹ thiếu axit béo cần thiết sẽ khiến trẻ thiếu cân.

Các nhà khoa học đã từng tiến hành điều tra đốì với 100 phụ nữ mang thai (56 người ở vùng đói nghèo, 44 người ở vùng sung túc), phát hiện thể trọng trẻ được sinh ra ở vùng đói nghèo đa phần thấp hơn 3000g, thậm chí có 9 trường hợp thấp hơn 2500g, những bà mẹ ở vùng này trong thời gian mang thai chỉ hấp thu 6.6g axit béo cần thiết mỗi ngày; Trong khi đó, những bà mẹ ở vùng sung túc, mỗi ngày hấp thu 12g axit béo, kết quả là, không có trường hợp nào trẻ được sinh ra thiếu cân.

Chuyên viên nghiên cứu Nhật Bản cho rằng, bổ sung axit béo cho cơ thể phụ nữ mang thai thì có thể đề phòng trẻ sinh ra thiếu cân, họ đã đo được nồng độ các loại axit béo trong máu cơ thể và trong máu cuống rôn của 70 phụ nữ mang thai, kết quả phát hiện thấy, nồng độ trong máu cuống rốn thấp hơn hẳn so với trong máu cơ thể. DHA và AA giữa mẹ và bé rõ ràng có liên quan tới HF, cho thây nồng độ axit béo trong máu cuông rốn quyết định ở nồng độ trong máu cơ thể mẹ.

Nhìn chung, mỗi ngày phụ nữ mang thai nên hấp thu 10~12g axit béo cần thiết. Axit béo sẽ qua cuống rốn tới thai nhi, vừa cấu thành màng tế bào, vừa giúp não thai nhi phát triển. Đồng thời, axit béo cần thiết còn có thể được chuyển hóa thành tố tiền liệt tuyến, khiến máu lưu thông trong cuống rốn, cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của thai nhi.

Mang thai không nên ăn nhiều muối

Không nên ăn mặn khi mang thai
Không nên ăn mặn khi mang thai

Có người cho rằng, trong thời kì mang thai, đặc biệt trong mấy tháng cuối, cấm không được ăn muối. Kì thực một chút muối không vấn đề gì, nếu có lời khuyên của bác sĩ hoặc gặp những tình trạng dưới đây thì mới không được ăn muối hoặc ăn ít muối:

  1. Khi mắc một số bệnh nào đó liên quan tới thai nghén (bệnh tim, thận), nhất thiết cấm ăn muối ngay từ lúc bắt đầu mang thai.
  2. Thể trọng tăng quá nhanh, đặc biệt, kèm theo đó là hiện tượng phù thũng, huyết áp tăng, người mắc hội chứng huyết áp cao thai nghén cũng không được ăn muối.

Cấm không ăn muối nghĩa là mỗi ngày không được ăn quá 1.5~2.0g natri clorua. Mỗi ngày hấp thu 8~15g natri clorua vào cơ thể, 1/3 trong số đó là do lương thực chính cung cấp, 1/3 là do muối ăn, 1/3 còn lại là từ thức ăn khác. Tất cả những thức ăn không có vị mặn có thể khiến phụ nữ mang thai dần dần quen với việc không ăn muối. Như nước  cà chua tươi, nước chanh ép, dấm, mù tạt không muối, rau thơm, tỏi, hành, hành tây, rau hẹ, đinh hương, đậu phụ,…

Những lưu ý ăn uống trong giai đoạn cuối thai kỳ

Giai đoạn cuối thai kì, thai nhi vẫn tiếp tục phát triển. Do vậy, phụ nữ mang thai vẫn phải đảm bảo lượng dinh dưỡng cần thiết. Chuyên gia cho rằng,ở giai đoạn cuối thai kì, phụ nữ mang thai nên đặc biệt chú ý 4 điểm sau:

  1. Chọn biện pháp ăn ít, ăn thành nhiều bữa. Càng gần ngày sinh thì càng cần hấp thu nhiều chất sắt hơn. Song lúc này dạ dày chịu áp lực của tử cung, một bữa ăn quá nhiều sẽ cảm thấy bụng căng tức, hơn nữa dễ bị táo bón hoặc đi ngoài. Bởi vậy, nên ăn thành nhiều bữa, một ngày ăn 4-5 bữa là thích hợp. Trọng điểm tập trung vào bữa trưa, thức ăn chính có thể giảm bớt, tăng cường thức ăn phụ giàu dinh dưỡng, nên ăn nhiều rau tươi, sản phẩm chế biến từ sữa, để đề phòng táo bón.
  2. Nên ăn nhạt một chút: Thức ăn cho phụ nữ mang thai ở kì cuối thai nghén nên nhạt một chút, giảm bớt muối và nước mắm, không nên ăn dưa muối, tương. Nếu cảm thấy không hợp khẩu vị, ăn không ngon miệng thì có thể cho một chút đường hoặc dấm vào thức ăn.
  3. Lên thực đơn hợp lý tùy theo tình hình thực tế của phụ nữ mang thai: Khi khám thai, phụ nữ mang thai có thể xin sự chỉ dẫn của bác sĩ, nắm rõ tình hình phát triển của thai (có tốt không, quá to hay quá nhỏ), đồng thời kết hợp với sức khỏe, mức độ công việc của bản thân, cũng như tình hình kinh tế gia đỉnh để lên thực đơn hợp lý.
  4. Giai đoạn cuối thai nghén dễ xuất hiện hội chứng huyết áp cao thai nghén và những bệnh khác có liên quan tới thai nghén. Cần điều chỉnh thức ăn dựa theo tính chất và mức độ của bệnh tình. Ví như, huyết áp tăng cao, phù thũng nặng, tiểu anbumin,… lập tức hạn chế hấp thu protein và muối. Lên “thực đơn ăn uống kết hợp trị bệnh” theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *