Phụ nữ mắc bệnh nào thì không nên mang thai

Những phụ nữ mắc các bệnh dưới đây đều không nên mang thai. Dù có những phụ nữ đã có mang, thì cũng nên phá bỏ để tránh nguy hiểm tới tính mạng, hoặc để lại hậu quả đáng tiếc cho thế hệ sau.

Bệnh thiếu máu:

Những phụ nữ có các hiện tượng như chóng mặt, đau đầu, choáng váng mỗi khi đứng dậy, hô hấp khó khăn,… thì đều có thể là do thiếu máu, lúc này không thể liều lĩnh có thai, trước khi mang thai cần đi kiểm tra xem có bị bệnh thiếu máu không. Nếu đúng là bị thiếu máu, hơn nữa mức độ tương đối nặng thì tạm thời không nên có thai. Thiếu máu là bệnh tật mang tính toàn thân, nguyên nhân chủ yếu của nó là dinh dưỡng không đủ, thiếu sắt. Những phụ nữ bị bệnh này mang thai không chỉ làm tăng mức độ thiếu máu cho bản thân, mà còn mang lại đau khổ và phiền toái cho mình, hơn nữa, do dinh dưỡng không đù sẽ khiến thai nhi phát triển chậm.

Phụ nữ mắc bệnh gì thì không nên mang thai

Bệnh tim:

Thời gian mang thai, do ứ đọng nước, natri, làm tăng thêm trọng trách cho tim, người bệnh thiếu oxy do chức năng của tim không bình thường. Cơ thể thiếu oxy có thể dẫn tới triệu trứng huyết áp cao khi mang thai, nguy hiểm tới tính mạng người mẹ, ngoài ra còn có thể dẫn tới thai chết lưu trong tử cung.

Bệnh hen suyễn:

Vào những lúc lên cơn hen, do hô hấp khó khăn sẽ xuất hiện hàng loạt triệu chứng thiếu oxy, có thể dẫn tới không đủ oxy cung cấp cho thai nhi, gây trở ngại cho sự phát triển của thai nhi. Bởi vậy, phụ nữ mắc bệnh hen suyễn không nên mang thai. Đặc biệt là những phụ nữ mắc bệnh hen suyễn mãn tính, chức năng phổi bị tổn hại nghiêm trọng. Không thể đảm nhận trọng trách thai nghén, càng không thích hợp với việc mang thai.

Bệnh lao phổi:

Lao phổi kết hạch có thể lây truyền sang thai nhi theo đường máu. Thường xuyên uống các loại thuốc chống lao có thể dẫn tới thai nhi dị tật. Áp lực vùng ngực khi đẻ tăng mạnh, có thể khiến phổi huyết, khiến bệnh tình càng trầm trọng.

Bệnh tiểu đường:

Nếu phụ nữ mắc bệnh tiểu đường mang thai thì tỉ lệ thai nhi tử vong rất cao, tỉ lệ thai di, trẻ sinh ra to lớn khác thường cũng cao gấp 3 lần so với phụ nữ bình thường, đạt 6~10%, ngoài ra trẻ sinh ra còn có những bất thường ở một số cơ quan như tim, phổi. Hơn nữa sau khi người mắc bệnh tiểu đường mang thai, quá trình lâm sàng phức tạp, xử lý không thỏa đáng sẽ ảnh hưởng tới tính mạng của cả mẹ và con. Một số người mắc bệnh tiểu đường, cộng thêm bệnh thận hoặc bệnh võng mạc nghiêm trọng thì tỉ lệ thai nhi dị tật có thể lên tới 20%, hơn nữa, sau khi sinh, bệnh thận, bệnh huyết quản càng nặng, đều gây bất lợi cho mẹ và con, do vậy, không nên mang thai.

Bệnh viêm thận:

Sau khi mang thai, nhìn chung thận phải đảm đương thêm 50% trọng trách, do vậy, phụ nữ bị viêm thận mang thai sẽ gây tổn thương chức năng của thận. Thuốc điều trị viêm thận có thể gây ra những dị tật cho thai nhi như não phát triển không bình thường.

Bệnh cường tuyến giáp:

Mang thai khiến bệnh cường tuyến giáp nặng thêm, thường dẫn tới triệu chứng huyết áp cao khi mang thai. Cơ thể thiếu oxi có thể dẫn tới những hiện tượng như sảy thai, đẻ non, chết lưu.

Bệnh viêm gan:

Virut viêm gan có thể lây truyền sang thai nhi qua vách ngăn nhau thai, khiến thai nhi không đủ dinh dưỡng, phát triển chậm ở tử cung, nghiêm trọng còn hơn có thể khiến gan của thai nhi teo lại. Trẻ mới sinh bị nhiễm virut viêm gan B sẽ mang bệnh cả đời.

Bệnh tê thấp:

Phụ nữ mắc bệnh viêm khớp, tê thấp không nên mang thai. Bởi vì, phụ nữ mắc bệnh này sau khi mang thai sẽ khiến bệnh tình nặng hơn. Thêm vào đó, một số loại thuốc điều trị bệnh tê thấp có ảnh hưởng không tốt cho thai nhi, có thể sinh ra trẻ khuyết tật. Có một số người bệnh không thể tự lo cho cuộc sống thường ngày của mình, phải cần người khác giúp đỡ, nếu sau khi có mang, cuộc sống sẽ càng bất tiện, bệnh tình càng trầm trọng.

Bệnh máu trắng:

Phụ nữ mắc bệnh máu trắng cấp tính mang thai thì tỉ lệ thai nhi tử vong đạt tới 60%; Phụ nữ mắc bệnh máu trắng mãn tính có thể mang thai đủ chín tháng, song tỉ lệ trẻ mắc dị tật bẩm sinh cao 15~20 lần so với phụ nữ bình thường. Phụ nữ mắc bệnh máu trắng thường mệt mỏi, chán ăn, thiếu máu, đau đầu, chảy máu cam, da nổi mụn máu,… những triệu chứng này đều ảnh hưởng không tốt cho thai nhi. Người mắc bệnh máu trắng thường phải tiến hành điều trị bằng thuốc hóa học, trong thời kì mang thai, những loại thuốc chống ung thư này vô cùng có hại đối với phôi thai và thai nhi. Khi phụ nữ mắc bệnh máu trắng có mang cần kịp thời tới bệnh viện “xử lý”, để có lợi cho việc điều trị bệnh của mình, cũng như tránh sinh ra trẻ dị tật.

Có nên có con ngay sau khi kết hôn

Có những cặp vợ chồng mới cưới có thai ngay từ lần quan hệ đầu tiên. Rất nhiều người cho đó là một việc đáng mừng, đúng là “song hỉ lâm môn”.

Có nên mang thai ngay sau khi cưới

Thực tế, kiểu mang thai này không tốt, rất có thể sinh ra những đứa trẻ không thông minh, có khi còn bị khuyết tật, đần độn. Đó là vì những nguyên nhân sau:

  1. Hai bên đã quá mệt mỏi sau thời gian chuẩn bị cho việc cưới xin, như sửa nhà, mua sắm đồ đạc,… Tinh thần và sức lực đều ở vào trạng thái không tốt, tương đối mỏi mệt, nếu có mang luôn vào lúc này, đa phần thai nhi không khỏe.
  2. Trong đám cưới, đi đi lại lại chào hỏi bạn bè, khách khứa, uống rượu, bia nhiều, thậm chí uống quá đà, hoặc đoạn đường đưa đón dâu quá xa, không được nghỉ ngơi, không quen thức ăn, cơ thể cũng sẽ mỏi mệt. Cơ thể mỏi mệt và uống rượu đều không tốt cho việc mang thai. Hút thuốc, uống rượu quá nhiều sẽ khiến tinh trùng của nam giới dị dạng, trứng của nữ giới tổn thương. Theo điều tra, vợ chồng mới cưới uống quá nhiều rượu, có thể tạo nên thai nhi dị hình hoặc phát triển không tốt, ngoài ra còn có thể dẫn tới đẻ non, sảy thai, chết lưu hoặc sinh ra những đứa trẻ trí não kém phát triển.
  3. Đêm tân hôn, lần đầu vợ chồng quan hệ, còn chưa có kinh nghiệm về tình dục, đặc biệt người vợ thường không thích ứng với sinh hoạt tình dục, hormon nữ bài tiết thất thường, hơn nữa vào lúc mới cưới, vợ chồng trẻ liên tục quan hệ, tinh thần tương đối căng thẳng, khó mà đạt được cao trào, chất lượng trứng và tinh trùng cũng giảm sút, những điều vừa nêu trên đều không có lợi cho sinh con khỏe mạnh thông minh.

Ngoài ra, cuộc sống vợ chồng vừa mới bắt đầu, hai bên đều cần có một quá trình hiểu và hòa hợp, nếu lúc này có mang ngay thì cả vợ và chồng đều chưa có sự chuẩn bị tốt về mặt tâm lý và cả về cuộc sống, nhất định sẽ ảnh hưởng tới việc chăm sóc thai tiếp theo. Do vậy, nên áp dụng biện pháp tránh thai khi mới cưới, không nên vội vàng có con ngay. Tốt nhất, mang thai từ 1~2 năm sau khi cưới.

Tuy nhiên, nếu vợ chồng tuổi đã cao, đặc biệt là người vợ, khi tuổi sinh đẻ không thể kéo dài thêm thì có thể mang thai sau 3 tháng kết hôn, song cần dựa trên nền móng đã có sự chuẩn bị từ trước khi cưới. Sau một khoảng thời gian điều tiết và nghỉ ngơi, những mỏi mệt sau đám cưới về cơ bản cũng đã chấm dứt, sinh hoạt vợ chồng bước đầu cũng đã thích ứng, có thể nghĩ tới việc tiếp nhận một thành viên mới vào gia đình.

Chuẩn bị gì trước khi mang thai?

Việc chuẩn bị trước khi mang thai là vô cùng quan trọng. Nó quyết định rất nhiều đến sức khỏe cũng như sự phát triển của thai nhi. Vậy, cần chuẩn bị những gì? mời các bạn theo dõi phần tiếp theo của bài viết.

Chuẩn bị Sinh lý

Hiện nay, có rất nhiều cặp vợ chồng trẻ nghĩ rằng, muốn có con, thì chỉ cần tháo bỏ các biện pháp tránh thai thì có thể mang thai, tuy nhiên họ đã xem nhẹ việc chuẩn bị về mặt sinh lý. Chuẩn bị sinh lý chủ yếu là chỉ người phụ nữ cần điều chỉnh tốt cơ năng sinh lý của thể chất, điều hòa các mặt như ăn uống, ăn mặc,… để có cơ năng sinh lý tốt nhất chuẩn bị cho việc mang thai, điều này rất có lợi cho cả mẹ và con trong suốt quá trình mang thai.

Chuẩn bị sinh lý chủ yếu bao gồm: Điều chỉnh thích hợp cơ năng sinh lý, chăm sóc về mặt tố chất cơ thể, ăn uống đủ chất, sinh hoạt tình dục lành mạnh, vệ sinh sạch sẽ cơ quan sinh dục.., cũng có thể nói “chỉnh đốn” cơ thể một cách toàn diện.

  • Không nên có con ngay sau khi ngừng dùng thuốc tránh thai.

Trong thuốc tránh thai có hàm chứa hormon nữ và hormon mang thai, những kích tố này trong cơ thể bài tiết ra ngoài tương đối chậm, uống thuốc tránh khoảng 1 tháng, hormon trong cơ thể phải mất 5 tháng mới bài tiết hết ra ngoài; Nếu mang thai trong 5 tháng này những hormon này sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi, thậm chí dẫn tới thai nhi dị hình.

  • Điều chỉnh thích hợp cơ năng sinh lý.

Mang thai và sinh con tuyệt đối không đơn thuần chỉ là việc của cơ quan sinh dục, nó liên quan tới toàn bộ cơ thể của cả vợ và chồng. Nói từ mặt điều chỉnh thích hợp cơ năng sinh lý, cả nam và nữ đều cần chú ý giữ vệ sinh, chọn những biện pháp bảo vệ sức khỏe cần thiết, khả thi, khiến cơ thể luôn ở trạng thái mạnh khỏe nhất. Trước khi mang thai, cả vợ và chồng đều nên đi kiểm tra sức khỏe, để kịp thời tiến hành điều trị, điều dưỡng và khôi phục chức năng khi phát hiện những vấn đề cơ năng sinh lý khác thường hoặc liên quan tới bệnh tật.

Để đảm bảo tinh trùng và noãn đạt chất lượng tốt, cơ quan sinh dục khỏe mạnh, trước khi mang thai cần tiến hành kiểm tra và điều chỉnh cơ năng sinh lý, nếu cần thiết phải tuân theo sự hướng dẫn của bác sĩ khoa sản, để đảm bảo mang thai trong tình trạng cơ năng sinh lý của hai vợ chồng bình thường và khỏe mạnh.

Điều đặc biệt cần chú ý ở đây là, sức khỏe của bản thân không thể dựa vào cảm giác. Sức đề kháng bệnh ở thanh niên tương đối mạnh, thời kì đầu mang bệnh hoặc nhiễm một số bệnh di truyền nào đó, có thể không hề biết rằng mình đang mắc bệnh. Do vậy, vợ chồng nên tới bệnh viện kiểm tra toàn bộ sức khỏe một lần trước khi muốn sinh con.

Tìm hiểu kĩ về “ăn ở đi lại”.

Trong khoảng thời gian trước khi mang thai, cả vợ và chồng đều không nên mặc những loại quần bó sát cơ thể như quần bò, quần lót bằng chất liệu nilon, bởi vì những loại quần này làm bằng sợi hóa học, hoặc có tính thông khí kém, nó có thể sẽ ôm chặt lấy bộ phận sinh dục của nam và nữ, làm tăng khả năng viêm âm đạo của phụ nữ, ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành công hoặc thất bại của việc mang thai. Còn về phía nam giới, sẽ ép tinh hoàn lên phía bụng, tăng nhiệt độ của tinh hoàn, làm giảm chức năng sinh tinh.

Chuẩn bị sinh lý trước khi mang thai

Mang thai trong tình trạng này, tỉ lệ trẻ bị dị hình hoặc dị tật bẩm sinh tương đối cao. Khoảng thời gian trước khi mang thai, nam nữ đều nên ngừng hút thuốc, không uống nhiều rượu. Mang thai sau một thời gian dài uống rượu, thai nhi dễ bị dị hình hoặc trí não kém phát triển, khói thuốc và nicotin trong thuốc lá gây trở ngại cho sức khỏe mang thai, thông minh. Nên hấp thu nhiều chất dinh dưỡng cố lợi cho việc mang thai hoặc những chất cần thiết sau khi đã mang thai, ở phần sau chúng tôi sẽ giới thiệu những loại thức ăn này. Về vận động, cần chú ý không nên tham gia những môn thể thao như đua xe, chạy đường dài, cũng không nên đi du lịch tới những nơi quá xa, để tránh ảnh hưởng tới sự cân bằng của cơ năng sinh lý.

Chuẩn bị Tâm lý

Để sinh ra một đứa trẻ khỏe mạnh, thông minh, cả vợ và chồng đều nên có sự chuẩn bị kĩ lưỡng về tâm lý và tinh thần, điều này vô cùng quan trọng đối với sức khỏe trong lúc mang thai. Cũng chính là nói trạng thái về tâm tư, cảm xúc tinh thần của cả vợ và chồng trước khi mang thai đều có ảnh hưởng tới sức khỏe của mẹ và con.

Trạng thái tâm lý, tinh thần là biểu hiện hoạt động tâm lý của con người, khi một cặp vợ chồng bàn bạc quyết định sinh con thì hai bên đều cần có tâm tư thoải mái, tinh thần hưng phấn, thái độ lạc quan và có niềm tin chắc chắn sẽ có thai, vậy thì mang thai trong tâm trạng và tinh thần hưng phấn như vậy, đứa trẻ sinh ra nhất định sẽ bình thường, hơn nữa còn khỏe mạnh, thông minh.

Nếu khi mang thai, cả vợ và chồng đều không có sự chuẩn bị về mặt tư tưởng, trạng thái tâm lý và tinh thần không tốt thì nhất định sẽ ảnh hưởng tới thế hệ sau.

Chuẩn bị tâm lý trước khi mang thai

Nếu phụ nữ mang, thai thường cáu giận sẽ làm giảm bạch cầu trong máu, điều này chắc chắn sẽ khiến sức đề kháng bệnh tật của cơ thể yếu đi, giảm chức năng miễn dịch của cơ thể. Bởi vậy, khả năng mắc các bệnh truyền nhiễm cao, điều này không chỉ bất lợi cho sức khỏe của bản thân mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi vì thường xuyên mắc bệnh. Hơn nữa, sức đề kháng bệnh tật của những đứa trẻ này sau khi được sinh ra cũng sẽ kém hơn so với những đứa trẻ bình thường. Từ đó, có thể nói, trong thời kì mang thai, tâm tư người mẹ; không tốt, sẽ gây hậu quả bất lợi nhiều mặt.

Ngoài ra, có chuyên gia từng nghiên cứu phát hiện thấy, một số trẻ bị dị tật bẩm sinh như sứt môi, hở hàm ếch thường là do tâm tư của bà mẹ không tốt trong thời kì mang thai. Chuyên gia phân tích rằng, thời gian mang thai từ 7-10 tuần chính là khoảng thời gian hình thành vòm miệng, khoang miệng và xương hàm của thai nhi, lúc này nếu tâm tư người mẹ không ổn định, chịu những kích thích và ảnh hưởng không tốt, rất có thể, đây chính là một nhân tố quan trọng dẫn tới dị tật bẩm sinh ở trẻ.

Tâm tư của vợ và chồng có tốt hay không, điều này có liên quan tới các nhân tố như xã hội, gia đình, cuộc sống, công việc và tình trạng sức khỏe. Do vậy, khi vợ chồng chuẩn bị có con cần biết cách điều chỉnh các nhân tố vừa nêu. Đặc biệt, biết cách xử lý ổn thỏa những nhân tố dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng, để đảm bảo tâm tư thoải mái trước khi mang thai. Vợ chồng cần phải hiểu nhau, từ đó điều chỉnh nhịp nhàng về mặt tính cách, cũng như bổ trợ cho nhau về mặt khí chất. Ví như, vợ chồng chủ động cùng nhau điều tiết cân bằng tâm lý, hiểu và lí giải trạng thái tinh thần của đối phương, khi một bên mất đi trạng thái tâm lý bình thường do những nguyên nhân về khí chất, tính cách hoặc tinh thần gây ra thì bên còn lại phải tìm cách hòa giải nó, giúp đối phương thoát ra khỏi tình trạng này. Vợ chồng còn cần sắp xếp ổn thỏa cuộc sống hàng ngày, không để tình trạng mất cân bằng tâm lý hoặc tinh thần bất ổn xảy ra. Nếu như quá căng thẳng, thì cần thư giãn một chút, sau một ngày hoặc vài ngày làm việc quá mệt mỏi, vợ chồng nên cùng nhau đi bộ vào buổi tối hoặc ra ngoại ô dã ngoại vào ngày nghỉ cuối tuần, làm vậy có lợi cho việc điều hòa trạng thái tinh thần và tâm lý không tốt.

 

Rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học đã cho thấy tâm tư của phụ nữ mang thai thế nào, không chỉ liên quan tới sức khỏe của bản thân họ, mà còn liên quan tới sự phát triển của thế hệ sau, đây quả thực là việc nên nhìn nhận một cách nghiêm túc. Còn giữ gìn sức khỏe như thế nào, ổn định tâm tư ra sao trong thời kì mang thai thì cần chú ý tới rất nhiều mặt. Ví như, luôn tạo ra không khí vui vẻ, đầm ấm trong gia đình, vợ chồng thường xuyên trao đổi, trò chuyện, giao lưu để hiểu nhau hơn, đặc biệt là khi có chuyện không vui xảy ra. Hãy khuyên nhủ, hướng dẫn phụ nữ mang thai từ góc độ tích cực, tránh để phụ nữ bị kích động không tốt. Về phía phụ nữ mang thai, cũng cần nghiêm túc nhìn nhận những mâu thuẫn xảy ra trong cuộc sống, không nên quá thận trọng và tính toán so đo với một số việc “vặt vãnh”, đặc biệt không nên “lo nghĩ viển vông”, cố gắng giảm bớt những hiểu sai, hiểu lầm về người khác trong gia đình; Dù gặp chuyện gì, cũng cần suy nghĩ thoáng một chút, nên biết cách tự an ủi mình, như vậy, tâm tư sẽ luôn ổn định dù phải chịu bất cứ tác động nào. cần biết rằng, bảo đảm tâm tư lành mạnh, để bản thân luôn thoải mái đều vô cùng có ích cho chính mình và thai nhi, tự khắc cũng sẽ có ích đối với gia đình.

 

Trước khi mang thai, có những phụ nữ mang tâm trạng lo lắng về mặt tâm lý, dồn ép về mặt tinh thần. Họ sợ sau khi mang thì sẽ ảnh hưởng tới mặt thể hình của mình, mất đi sắc đẹp của tuổi thanh xuân; có những phụ nữ sợ sau khi đẻ; lại có những phụ nữ lo lắng sau khi sinh không biết cách chăm sóc con thế nào. Kì thực, tất cả những lo lắng này đều không cần thiết. Do hàng loạt những biến đổi sinh lý, sau khi mang thai cơ thể cũng sẽ có những thay đổi, chỉ cần kiên trì luyện tập sau khi sinh thì cơ thể sẽ phục hồi nhanh chóng. Đau đớn khi đẻ cũng là tạm thời, chỉ cần phối hợp nhịp nhàng với bác sĩ thì sẽ giảm bớt đau, rồi cũng “mẹ tròn con vuông”, còn chăm sóc trẻ thế nào dần dần sẽ hiểu rõ qua thực tế.

Thời điểm quan hệ dễ thụ thai

Chúng ta biết, thực chất của mang thai chính là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng của nam và nữ. Do vậy, chỉ khi trứng và tinh trùng cùng gặp nhau vào một thời điểm thì mới có thể mang thai, trứng và tinh trùng là điều kiện quan trọng nhất đối với việc mang thai. Một tinh trùng khỏe mạnh bình, thường có khả năng thụ tinh trong thời gian từ 48~72 tiếng, mà trứng rụng chỉ sống được 1~2 ngày. Quá thời gian nêu trên hoặc trứng chưa rụng, tinh trùng chưa được phóng ra, trứng và tinh trùng không thể gặp nhau thì sẽ không mang thai. Bởi vậy cần chọn ngày trứng rụng để quan hệ vợ chồng thì mới dễ mang thai.

Vậy thì lúc nào là thời điểm trứng rụng? Đối với chu kì kinh nguyệt là 28 ngày, thì thời điểm rụng trứng là vào khoảng ngày thứ 14 của tháng tiếp theo. Tuy nhiên, ngày rụng trứng thường không ổn định, có thể thay đổi đối với mọi phụ nữ, đặc biệt đối với những phụ nữ có chu kì kinh nguyệt không đều.

Thời điểm quan hệ dễ thụ thai

Do vậy, dù vợ chồng đều đã chuẩn bị tinh trùng và trứng mạnh khỏe, đường dẫn trứng “thông suốt”, vẫn cần phải nắm vững quy luật rụng trứng của người vợ. Chú ý quan sát và ghi chép những biến đổi sinh lý trong thời kì kinh nguyệt của người phụ nữ, nắm vững hiện tượng sinh lý trước và sau khi rụng trứng, để tinh trùng và trứng có thể gặp nhau trong thời gian tốt nhất. Nhìn chung, với chu kì kinh nguyệt bình thường (28 ngày) thì trứng sẽ rụng vào ngày thứ 12~16 của chu kì kinh nguyệt, khả năng mang thai khi quan hệ trong khoảng thời gian này khá cao.

Nắm vững thời gian trứng rụng thì có thể biết được “sinh hoạt” vào ngày nào sẽ dễ mang thai nhất. Dựa theo thời gian sống của tinh trùng và trứng, có thể thấy, quan hệ vào ngày trứng rụng hoặc trước đó 2, 3 ngày thì có thể thụ thai. Bởi vì tuổi thọ của tinh trùng là 48 tiếng (2~3 ngày), nếu trứng rụng mà không gặp tinh trùng thì sẽ chết sau 24 giờ.

Trong khoảng thời gian này, cả hai vợ chồng đã có sự chuẩn bị tốt về mọi mặt, đạt điều kiện tốt nhất để thụ thai, sinh ra đứa trẻ khỏe mạnh, thông minh.

Thời điểm nào trong năm thích hợp mang thai

Hiện nay, có rất nhiều hướng dẫn được lưu hành trong xã hội, nói rõ năm nào không nên kết hôn, năm nào sinh không tốt, tháng nào sinh con trai, tháng nào sinh con gái…Kì thực, những thông tin này đều không có cơ sở khoa học. Song, nói từ góc độ “sinh con khỏe dạy con ngoan”, chọn mùa sinh thích hợp; hạn chế thấp nhất những nhân tố bất lợi như thay đổi nhiệt độ, bệnh dịch hoành hành; phát huy triệt để những nhân tố có lợi đối với sự phát triển của thai nhi lại vô cùng quan trọng.

Thời điểm mang thai thích hợp?

Chúng tôi cho rằng, nếu bắt đầu mang thai vào quý ba, thì sẽ sinh vào quý hai của năm kế tiếp, điều này tương đối khoa học và hợp lý. Vì sao vậy?

Thời điểm nào trong năm thích hợp mang thai

Giới y học chưa có một tiêu chuẩn cụ thể nào đối với chọn mùa mang thai. Có một số tư liệu nói, tháng 3,4 là tháng thích hợp để mang thai, cho rằng lúc này có thể phòng tránh được những bệnh truyền nhiễm đối với thai nhi và mẹ, cũng như rất có lợi cho việc hấp thu những vitamin cần thiết. Tuy nhiên mang thai trong thời gian này thì sẽ đẻ vào mùa lạnh nhất của năm, thời tiết lạnh buốt sẽ không tốt cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh.

Từ góc độ y học, phôi thai có 3 thời kỳ phát triển then chốt:

  • Một là thời kì hình thành não, tức là mang thai tới tháng thứ 3;
  • Hai là thời kỳ phát triển tế bào não tức là mang thai được 6 tháng.
  • Ba là thời kỳ phát triển nhịp nhàng của các tế bào thần kinh, tức là mang thai từ 7-9 tháng.

Nếu chọn quý 3 để mang thai có nghĩa là tháng thứ 3 , tháng thứ 6 và thời kì sinh đều vào lúc khí hậu mát mẻ, dễ phối hợp về dinh dưỡng, hệ thống thần kinh của thai nhi có thể phát triển tốt. Phân tích cụ thể như sau:

  • Trước hết, ở thời kì hình thành não, đây không còn là thời điểm cuối đông đầu xuân, bệnh dịch đã bớt hoành hành, tỉ lệ mắc các bệnh như cảm cúm, nổi mề đay, quai bị, viêm màng não,… ở phụ nữ mang thai giảm. Hơn nữa, lúc này thời tiết sang thu, khí hậu mát mẻ sảng khoái, các loại rau, hoa quả và thực phẩm dinh dưỡng phong phú, có lợi cho cơ thể người mẹ hấp thu và dự trữ dinh dưỡng.
  • Tiếp đến, vào lúc đẻ chính là thời điểm cuối xuân đầu hạ, thời tiết ấm áp, không phải lo sự giá buốt của mùa đông và cái nóng khốc liệt của mùa hè, có lợi cho sự thích ứng và sinh tồn của trẻ sơ sinh đối với môi trường bên ngoài, trong khí hậu ấm áp, không nóng không lạnh, sản phụ sẽ cảm thấy thoải mái, phục hồi sức khỏe nhanh chóng, hơn nữa mùa này, rau quả tươi, thịt cá cũng rất phong phú, khiến sữa mẹ về nhiều, chất lượng cũng tốt.
  • Mặt khác, thời kì đầu mang thai và thời kì sắp sinh chính là lúc cả mẹ và con cần dinh dưỡng nhiều nhất. Hai mùa này cũng là lúc các loại rau, quả được bán đầy chợ. Nói chung, lúc này người mẹ ăn uống khá tốt, có thể thoải mái lựa chọn các loại thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng phong phú.

Không nên mang thai lúc nào?

Tốt nhất không nên mang thai vào tháng 10, 11 lúc này là thời điểm cuối thu đầu đông, thời tiết sang lạnh giá, khô hanh, bệnh truyền nhiễm tương đối nhiều, dễ khiến phụ nữ mang thai nhiễm bệnh ảnh hưởng tới thai nhi. Vào mùa đông, rau quả tương đối ít, khó đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cần thiết. Trẻ sinh ra lại vào đúng tháng 7, 8, thời tiết nóng nực, vừa không có lợi cho sức khỏe người mẹ, vừa ảnh hưởng không tốt tới việc nuôi con, thậm chí, có thể khiến mẹ và bé nhiễm các loại bệnh. Mang thai lúc này, vào đúng hai mùa lạnh và nóng nhất của năm, không tốt cho việc giữ gìn sức khỏe của người mẹ, mà thai nhi cũng bị “nóng lạnh” theo mẹ.

Mang thai mua nào

Cuối cùng, chọn thời điểm này mang thai, cả mẹ và con đều có thể hấp thu ánh nắng mặt trời trong suốt quá trình mang thai và lúc sinh, cung cấp Vitamin D cần thiết cho người mẹ và thai nhi, giảm bớt nguy cơ mắc cầc bệnh ở người mẹ và thai nhi do thiếu canxi. Không chỉ đảm bảo người mẹ có sức khỏe tốt mà cũng có lợi cho sự phát triển của thai nhi.

Đương nhiên, điều này chỉ có thể đúng vời khu vực có khí hậu nhiệt đới 4 mùa trong năm. Còn như một số khu vực khí hậu khác biệt, thì nên dựa theo tình hình mùa xảy ra dịch bệnh và mùa có thức ăn phong phú để chọn thời điểm mang thai hợp lý.

Độ tuổi tốt nhất để mang thai và sinh con

Tuổi sinh đẻ tốt nhất của nữ

Nghiên cứu cho rằng, độ tuổi tốt nhất để mang thai là 24~29 tuổi, độ tuổi sinh đẻ khoảng 25~30 tuổi.

Đó là vì, hệ thống xương đai hông của phụ nữ trong độ tuổi này đã phát triển hoàn thiện, cơ bắp đạt độ dẻo dai, dây chằng, xương chậu ở vào trạng thái tốt nhất, nếu lúc này mang thai và sinh con thì tỉ lệ mắc các loại bệnh sẽ giảm ở mức thấp nhất.

Tuổi mang thai và sinh đẻ tốt nhất

Ngoài ra, lúc này con người đã trưởng thành cả về thể chất lẫn tâm hồn, kinh nghiệm sống phong phú, kiến thức về mọi mặt tương đối đầy đủ, cũng đã có kinh, nghiệm trong công việc, bởi vậy, sau khi kết hôn, độ tuổi này tương đối thích hợp cho việc mang thai và sinh con. Lúc này đã có đủ sức khỏe chăm sóc con, cũng không còn phải lo lắng về điều kiện kinh tế, có thể nuôi và dạy con tốt hơn.

Các bác sĩ cho rằng phụ nữ trên 35 tuổi mới mang thai là muộn. Phụ nữ nhiều tuổi mới mang thai sẽ kéo theo hàng loạt vấn đề phiền phức, sẽ phải gánh chịu những rủi ro nhất định, bởi vậy cũng có thể gọi sản phụ trên 35 tuổi là ” sản phụ cao tuổi” . Vì tuổi cao nên trứng của những phụ nữ này dễ có hiện tượng ” lão hóa”, bởi vậy dễ sinh ra những đứa trẻ kém thông minh, hoặc bị dị tật bẩm sinh.

Phụ nữ càng nhiều tuổi mang thai thì trứng trong buồng trứng càng dễ suy thoái; Thời gian trứng tích tụ ở buồng trứng càng lâu, nguy cơ bị nhiễm độc, nhiễm tia phóng xạ,., càng nhiều. Những điều này đều sẽ tăng cơ hội đột biến nhiễm sắc thể, mang lại cho thai nhi nhân tố biến hóa dị hình.

Thêm vào đó, phụ nữ tuổi cao mang thai thì tính đàn hồi của xương chậu, dây chằng và các cơ bắp đều giảm, sẽ làm chậm quá trình đẻ, gây khó đẻ, nguy cơ phải mổ đẻ cũng cao, nguy cơ trẻ sinh ra đã mắc bệnh cũng tăng.

Tuổi sinh đẻ tốt nhất của nam

Thực tế đã chứng minh, nam giới càng trẻ, chất lượng tinh trùng càng kém, ở độ tuổi 30~35, nam giới có sức sống mãnh liệt nhất, sản sinh ra tinh trùng chất lượng tốt nhất, có thể truyền lại cho thế hệ sau những nhân tố cơ bản tốt nhất, trong đó bao gồm cả trí lực. Tuy nhiên, nam giới cũng không nên có con ở độ tuổi quá cao, điều này không hề có lợi, tỉ lệ mắc bệnh dị tật bẩm sinh và bệnh di truyền ở trẻ khá cao khi các ông bố nhiều tuổi.

Tuổi sinh đẻ của nam

Do vậy, các nhà khoa học cho rằng, độ tuổi sinh đẻ tốt nhất ở nam giới muộn hơn 1~2 năm so với nữ giới, tức là trong khoảng từ 25~30 tuổi hoặc 26~31 tuổi là thích hợp. Đương nhiên, 30~35 tuổi là độ tuổi sinh đẻ tốt nhất của nam giới, vấn đề ở đây là kết hợp sao cho tốt giữa độ tuổi sinh đẻ tốt nhất của nam với độ tuổi sinh đẻ tốt nhất của nữ, có nghĩa là nam 30 tuổi thì nữ khoảng 27 hoặc 28 tuổi, như vậy hai bên đều ở độ tuổi sinh đẻ tốt nhất.

Dưỡng thận trước khi sinh con

Tầm quan trọng của thận

Thận là nơi ẩn chứa tinh của cơ thể, xưa nay được mệnh danh là “bộ phận trung tâm bẩm sinh”. ” Thận ẩn chứa tinh” lại không phải là chỉ tinh dịch của nam giới, trên thực tế tinh hoa của lục phủ ngũ tạng đều ẩn chứa trong thận. Thận dồi dào tinh hoa, cơ thể cường tráng khỏe mạnh, tinh thần phấn chấn; Thận thiếu tinh hoa, xương cốt mỏi mệt, sức khỏe sa sút. Dù là nam hay nữ đều như vậy.

Dưỡng thận trước khi sinh con

Tinh khí là nền móng đặc chất cho ưu sinh, mà thận lại có tác dụng mở thông tinh khí, đây chính là “Thận chứa tinh”.

Các biện pháp dưỡng thận

Từ đó có thể thấy, muốn có sức khỏe tốt trước khi mang thai cần chú ý tới việc dưỡng thận, liên tục bổ sung, tích lũy tinh trong thận. Dưới đây xin giới thiệu một số biện pháp giúp thận khỏe mạnh:

Biện pháp xoa da dầu:

Thận tác động tới xương, tinh hoa của nó ở tóc. Xoa tóc có thể làm thông các tuyến dẫn, bổ thận ích lưng. Có thể xoa nhẹ da đầu bằng tay trái hoặc tay phải, sáng, trưa, tối, mỗi buổi xoa một lần, có thể phòng và chữa bệnh hói, bạc tóc sớm và hoa mắt ở tuổi trung niên.

Biện pháp đánh hai hàm răng vào nhau :

Thận có quan hệ mật thiết vôi răng, thận đủ tinh khí sẽ khiến răng chắc khoe. Thường xuyên đánh hai hàm răng với nhau, có lợi cho chân răng, lưu thông khí huyết, làm chậm quá trình lão hóa răng.

Biện pháp nuốt nước bọt:

Đông y cho rằng, nước bọt là dịch chảy ra từ phổi, ngồi tĩnh lặng nuốt nước bọt i thể làm bổ phổi, sinh nước bọt, mà phổi là nguồn nước, là kim trong ngũ hành, kim sinh nước, thận là thủy tạng, đương nhiên bổ phổi cũng bổ thận. Biện pháp nuốt nước bọt có thể phối hợp luyện khí công và đánh hàm răng, không hạn chế số lần và thời gian luyện tập mỗi ngày, càng luyện tập nhiều càng tốt.           .

Biện pháp “gõ trống” bên tai:

Dùng hai bàn tay bịt chặt hai bên tai, ép sát vành tai xuống, sau đó gõ ngón giữa và ngón trỏ vào nhau ở phía sau đầu, trong tai nghe như có tiếng trống. Mỗi ngày thực hiện 2 lần, mỗi lần làm trên 30 lượt, có lợi cho việc đưa khí từ thận tới não và 2 tai, giúp não khỏe mạnh tai tinh’ thông, phòng và chống bệnh điếc, ù tai.

Vợ chuẩn bị mang thai, chồng nên ăn uống như thế nào?

Để người vợ mang thai, dương vật của người chồng cần đưa vào âm đạo của người vợ, dương vật phóng ra tinh dịch và tinh trùng, qua tử cung, ống dẫn trứng, mới hoàn thành sứ mạng “hội ngộ” với trứng. Mà trong cơ quan sinh dục nam, tuyến tinh dịch, tuyến tiền liệt và tuyến niệu đạo cầu sẽ tự bài tiết không ít dịch thể, chúng kết hợp với nhau thành nước tinh dịch. Nước tinh dịch đảm nhiệm vai trò “điều khiển” đưa hàng triệu tinh trùng vào trong âm đạo người phụ nữ. Nước tinh dịch và tinh trùng cùng kết hợp thành tinh dịch.

Vợ chuẩn bị mang thai, chồng nên ăn uống như thế nào?

Nước tinh dịch có 3 chức năng “điều khiển” tinh trùng cụ thể như sau:

Thứ nhất, nước tinh dịch là chất môi giới cần thiết để vận chuyển tinh trùng, tinh trùng giống như cá, nước tinh dịch giống như dòng chảy, cá không thể rời xa dòng chảy, hoạt động của tinh trùng nhất thiết không thể tách rời khỏi nước tinh dịch.

Thứ 2, hoạt động của tinh trùng buộc phải có đủ năng lượng, nước tinh dịch đảm nhiệm vai trò cung cấp năng lượng hoạt động cho tinh trùng.

Thứ 3, nước tinh dịch có chứa 1 hàm lượng chất dinh dưỡng phong phú cần thiết để duy trì sự sống cho tinh trùng, là “kho lương” không bao giờ cạn của tinh trùng.

Thành phần chủ yếu của nước tinh dịch là nước, chiếm trên 90% tổng lượng, khiến nước tinh dịch ở trạng thái lỏng và có thể chuyển động, thuận lợi cho việc vận chuyển tinh trùng. Do các chất dinh dưỡng có trong nước tinh dịch – đảm nhiệm vai trò cung cấp năng lượng hoạt động cho tinh trùng – là “kho lương” của tinh trùng nên trong nước tinh trùng hàm chứa: Fructoza, anbumin, cholesteron, natri, canxi, kẽm, kali, vitamin và các loại men, vừa có thể cung cấp dinh dưỡng và năng lượng, vừa có thể kích thích hoạt động của tinh trùng. Bởi vậy, khi người vợ chuẩn bị mang thai, người chồng cần ăn nhiều thức ăn có chứa những thành phần dinh dưỡng nêu trên để lượng tinh dịch đầy đủ hơn, chất lượng cao hơn, tạo điều kiện tốt cho tinh trùng vào âm đạo “hội ngộ” với trứng.

Nam giới cần bổ sung kẽm trước khi có con

Nam giới mắc bệnh thiếu kẽm sẽ khiến cơ quan sinh dục, thận tinh bẩm sinh và sau này, dương khí, nguyên khí bị ức chế với mức độ khác nhau.

Bác sĩ ngày nay cho rằng, nguyên tố kẽm là thành phần quan trọng tạo nên hơn 70 men tổ hợp trong cơ thể, có liên quan trực tiếp tới hoạt tính của hơn 200 loại men, hơn nữa trực tiếp tham gia hợp thành và kích hoạt với nhiều loại men như men tổ hợp DNA, men tổ hợp RNA, vô cùng quan trọng đối với sự phân bào ở cơ thể, đặc biệt là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng. Bên cạnh đó, kẽm có tác dụng gây ảnh hưởng tới sự bài tiết hormon tuyến sinh dục, thúc đẩy tuyến sinh dục phát triển và duy trì cơ năng bình thường của tuyến sinh dục, thiếu kẽm còn gây cảm giác chán ăn, từ đó ảnh hưởng tới sức khoẻ, thiếu kẽm còn làm giảm chất lượng tinh trùng. Kẽm có thể “tham gia bất cứ hóa hợp nào của protein trong cơ thể”.


Theo phân tích hóa nghiệm, nam giới sau một lần quan hệ tình dục, có khoảng 1.8 mg kẽm có thể ra ngoài theo tinh dịch, tương đương với lượng kẽm dự trữ từ hơn 300g thịt lợn. Hàm lượng kẽm trong tinh dịch của nam giới nhất thiết phải đảm bảo tiêu chuẩn 5~30 ml/100ml, nếu thấp hơn tiêu chuẩn quy định này thì có nghĩa là đã thiếu kẽm hoặc mất kẽm tạo nên bệnh thiếu kẽm, đàn ông trung niên mắc bệnh thiếu kẽm sẽ không thể đạt được đỉnh cao trong quan hệ tình dục.

Muốn phòng và chữa trị có hiệu quả bệnh thiếu kẽm điểm mấu chối là phải cân bằng ăn uống, thực đơn phong phú, chỉ cần không quá kén chọn món ăn, không ăn thiên về một món hoặc ăn kiêng thì đều có thể hấp thu đủ kẽm từ những bữa ăn bình thường. Lượng kẽm cần thiết cho một người trưỏng thành là 15mg, nếu mỗi người hàng ngày ăn 120g thức ăn động vật thì có thể hấp thu được 4.2mg kẽm, ăn khoảng 1000g ngũ cốc, rau xanh thì có thể có được 10~15 mg kẽm, vậy thì mỗi ngày cũng hấp thu được 14.2~19.2 mg kẽm, có thể đạt tiêu chuẩn đề ra. Cặp vợ chồng muốn có con nên ăn nhiều thức ăn có chứa kẽm, trong trường hợp cần thiết cần tuân theo sự hướng dẫn của bác sĩ, uống những loại thuốc có chứa kẽm như kẽm sunfat, kẽm axetat,… với lượng vừa đủ.

Phụ nữ ăn uống không đủ chất ảnh hưởng đến khả năng sinh đẻ

Trong hội nghị lần thứ 79 của Hiệp hội nội tiết Mỹ, các nhà khoa học của trường Đại học Ohio đã công bố một thành quả: Lần đầu tiên giới khoa học cho rằng khả năng sinh dục của phụ nữ giảm có liên quan tới lượng calo dự trữ trong cơ thể của họ. Các nhà khoa học cho rằng, chỉ cần năng lượng hấp thu thức ăn ở người phụ nữ không đủ duy trì các hoạt động cần thiết cho cơ thể họ thì nồng độ hormon leptin trong cơ thể họ sẽ giảm. Thông qua sự biến đổi của nồng độ hormon, cơ thể sẽ tự động điều tiết việc cung cấp năng lượng tới các cơ quan, bảo đảm việc tiêu hao năng lượng cho các cơ quan thiết yếu duy trì sự sống. Hơn nữa thông qua việc giảm nồng độ hormon để kìm hãm tính hoạt động của buồng trứng.

Phụ nữ ăn uống không đủ chất ảnh hưởng đến khả năng sinh đẻ

Trong nghiên cứu, 22 phụ nữ độ tuổi từ 18 đến 27 được phân thành 3 nhóm, nhóm thứ nhất mỗi ngày hấp thu 400- 500 calo, không tham gia hoạt động thể thao; Nhóm thứ 2, mỗi ngày hấp thu 1100 tới 1200 calo, tập những động tác thể dục nhẹ nhàng; Nhóm thứ 3, mỗi ngày hấp thu 1800 calo, tập những bài thể dục mức độ nặng. Nhân viên nghiên cứu giám sát nghiêm ngặt việc hấp thu và tiêu hao năng lượng của mỗi người trong từng nhóm, sau đó kiểm tra nồng độ leptin và hormon buồng trứng, kết quả phát hiện thấy năng lượng cơ thể giảm, nồng độ leptin có thể giảm 50-70%, hormon buồng trứng cũng giảm rõ rệt.

Lượng calo dự trữ trong cơ thể phụ nữ quá ít không chỉ ảnh hưởng tới khả năng sinh dục mà thiếu chất dinh dưỡng cũng sẽ có quan hệ nhất định tới hiện tượng không có thai.

Không đủ dinh dưỡng và thiếu vitamin, đặc biệt là thiếu vitamin A, vitamin B và vitamin E có thể ảnh hưởng tới chức năng nội tiết của buồng trứng. Những phụ nữ thiếu dinh dưỡng dù đã mang thai thì cũng có thể gây ảnh hưởng tới sôi khỏe của thai nhi, khiến thai nhi phát triển chậm, sảy thai 1 chết lưu. Những đứa trẻ may mắn được sinh ra cũng sẽ nhỏ bé, thể chất kém, trí lực phát triển chậm, và xuất hiện một số dị tật hoặc thiếu chức năng miễn dịch nào đó về mặt thể lực hoặc hành vi.

Phụ nữ ăn uống không đủ chất ảnh hưởng đến khả năng sinh đẻ - Vitamin

Phụ nữ thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh đẻ, tuy nhiên nếu quá béo cũng không tốt. Nghiên cứu n học hiện đại cho thấy, béo phì còn dẫn tới hiện tượng mất kinh, kinh nguyệt không đều, không có thai,… Theo thống kê, trong số những phụ nữ kinh nguyệt bất thường do quá béo thì tỉ lệ bê kinh mang tính kế phát, lượng máu kinh quá ít hoặc quá nhiều chiếm khoảng 50%; Tỉ lệ không có thai là 18.5%, cao hơn 8.5% -11.5% so với những người phụ nữ cùng tuổi bình thường. Phụ nữ quá béo không chỉ khó có thai, mà các triệu chứng sản khoa sau khi có mang cũng tương đối nhiều. Tỉ lệ xảy ra những hiện tượng như hội chứng huyết áp cao thai nghén, thai nhi quá to, nhau thai bong sớm, khó đẻ và thai chết lưu ở người quá béo cao hơn rất nhiều so với những phụ nữ có thể trọng bình thường.

Nguyên tắc cơ bản về ăn uống trước khi mang thai

Nam nữ ở độ tuổi sinh đẻ cần có một cơ thể khỏe mạnh trước khi mang thai, đủ dinh dưỡng. Đặc biệt, những phụ nữ chuẩn bị mang thai không thể thiếu dinh dưỡng, không nên ăn thiên về một loại thức ăn hoặc ăn kiêng để tránh dẫn tới tình trạng thiếu một số chất dinh dưỡng nào đó, mang lại phiền toái, thậm chí nguy hại cho việc mang thai sau này.

Phụ nữ trong độ tuổi mang thai thiếu dinh dưỡng có thể dẫn tới hiện tượng không có mang. Điều này đã được nhắc đến ở bài viết : Phụ nữ ăn uống không đủ chất ảnh hưởng đến khả năng sinh đẻ

Trước khi mang thai, phụ nữ thiếu dinh dưỡng, tới khi mang thai, các chất dinh dưỡng dự trữ trong cơ thể thiếu sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi thai, nếu vẫn để tình trạng này kéo dài trong thời kì mang thai thì sẽ khiến thai nhi không hấp thu đủ dinh dưỡng từ  người mẹ, dẫn tới phát triển chậm, khả năng đẻ ra những đứa trẻ thiếu cân tương đối cao (đẻ đủ tháng mà thể trọng nhỏ hơn 2.5kg)

Nguyên tắc cơ bản về ăn uống trước khi mang thai

Do vậy, để sinh ra những đứa trẻ thông minh, khỏe mạnh, người mẹ nên có sự chuẩn bị trước khi mang thai, bổ sung đầy đủ dinh dưỡng cần thiết.

Vợ chồng có tình trạng sức khỏe và thể chất khác nhau, cần dựa theo tình hình thực tế của mình để có sự chuẩn bị tốt và bổ sung những chất cần thiết như protein, mỡ, khoáng chất, vitamín, cacbon hydrat. Do vậy, chúng tôi hi vọng mọi cặp vợ chồng có kế hoạch sinh con cần nắm vững những chất dinh dưỡng cần thiết cho mình dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.

1. Cần tạo dựng thói quen ăn uống tốt.

Trước khi mang thai một năm hoặc lâu hơn nữa, vợ chồng đều cần phải thay đổi một số thói quen và sở thích ăn uống không tốt. Ví như, trước đây có thói quen ăn mặn thì trước khi mang thai nên ăn nhạt một chút, vì phụ nữ mang thai hấp thu quá nhiều muối sẽ dễ dẫn tới huyết áp cao và bị phù trong thời gian mang thai, không có lợi cho sự phát triển của trẻ. Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, vợ chồng cần thay đổi thói quen ăn thiên một món, không nên chỉ chuyên ăn các loại thức ăn thực vật hoặc thức ăn động vật, cần phải hấp thu đầy đủ các chất dinh dưõng cần thiết cho cơ thể như protein, mỡ, vitamin, khoáng chất,..

2. Cần tăng cường dinh dưỡng.

3 tháng trước khi mang thai, hai vợ chồng đều cần tăng cường dinh dưỡng để tạo ra tinh trùng và trứng “chất lượng tốt”, cũng như cung cấp “nền móng vật chất” tốt cho sự hình thành thai nhi khỏe mạnh và cho toàn bộ quá trình mang thai.

Nguyên tắc cơ bản về ăn uống trước khi mang thai

Cần ăn nhiều thực phẩm động vật có chứa protein, khoáng chất và vitamin phong phú. Vợ chồng có thể dựa theo tình hình kinh tế của gia đình, theo mùa để lên thực đơn một cách khoa học cho 3 bữa ăn trong ngày của mình, đồng thời cần chú ý ăn nhiều hoa quả. Qua một giai đoạn “bồi dưỡng sức khỏe”, vợ chồng đã tích trữ đủ dinh dưỡng, cơ thể khỏe mạnh, tinh lực dồi dào là nền móng vật chất vững chắc để sinh ra đứa con khỏe mạnh, thông minh.

3. Tránh ngộ độc thức ăn.

Trong suốt quá trình từ sản xuất nguyên liệu, gia công, đóng gói, vận chuyển, tồn trữ, tiêu thụ cho tới sử dụng, thực phẩm đều có thể bị nhiễm một số chất độc hại với mức độ khác nhau như: thuốc trừ sâu, kim loại, độc tố mốc và nguyên tố phóng xạ, từ đó gây hại nghiêm trọng đối với sức khỏe con người và cho thế hệ tiếp theo. Do vậy, trước khi muốn có con, vợ chồng nên chú ý tới vệ sinh ăn uống thường ngày, tránh ngộ độc thức ăn. Cố gắng ăn những thực phẩm tự nhiên tươi ngon, tránh ăn những thức ăn cho thêm chất phụ gia, sắc tố, chất chống thối nát. Nên ăn rau tươi, đồng thời phải rửa sạch sẽ, hoa quả cũng nên gọt rồi mới ăn để tránh bị ngộ độc thuốc trừ sâu; Cố gắng uống nhiều nước lọc, không nên uống các loại đồ uống có ga như nước ngọt, bia, rượu,.. Nên sử dụng đồ nấu ăn và dụng cụ ăn bằng inox tránh sử đồ dụng cụ bằng nhôm hoặc tráng men màu tránh nguyên tố nhôm, chì,… làm tổn thương tới tế bào cơ thể.

Chú ý: Tăng cường dinh dưỡng không phải là ăn càng nhiều càng tốt, ăn quá nhiều có thể dẫn tới trọng lượng của người mẹ tăng quá nhanh, gây thêm gánh nặng đi lại; Thai nhi quá to sẽ gây trở ngại cho quá trình sinh nở.

Bổ sung Axit folic trước khi mang thai

Chuẩn bị tốt trước khi mang thai là vô cùng quan trọng đối với bất cứ cặp vợ chồng nào, đặc biệt là đối với bà mẹ và đứa trẻ trong tương lai. Để thai nhi mạnh khỏe, tốt nhất phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ nên khử sạch độ tố trong cơ thể nửa năm trước khi có thai, ngừng uống thuốc tránh thai (hoặc tháo bỏ những dụng cụ tránh thai), hoạt động lành mạnh, ăn uống đủ chất, bổ sung axit folic, vitamin B để ngăn ngừa gây tổn hại cho tủy hoặc não của thai nhi.

Bổ sung Axit folic trước khi mang thai

Nghiên cứu khoa học cho thấy, nếu người mẹ thiếu axit folic trong 4 tuần đầu mang thai thì có thể khiến hệ thống thần kinh của trẻ bất thường, gây hậu quả nghiêm trọng. Một trong những hậu quả chính là vẹo cột sống, làm tổn thương nghiêm trọng tới các chức năng.

Điều này cho thấy rõ tầm quan trọng của việc hấp thu axit folic trong thời kì thai nghén: Một là, thúc đẩy thai nhi phát triển bình thường, vì axit folic là nhân tố quan trọng trong quá trình trao đổi purin và pyrimidine, muốn tế bào, tổ chức phát triển nhanh thì nhất thiết phải có axit folic; Hai là, ngăn chặn bệnh thiếu máu mang tính hồng cầu non và to trong thời kì mang thai, cơ thể người mẹ thiếu axit folic sẽ gây trở ngại cho sự hợp thành của axit nucleic trong hồng cầu, ảnh hưởng tới quá trình phát triển và trưởng thành của hồng cầu, do hồng cầu to hơn song số lượng lại ít so với thể tích tế bào bình thường nên gọi là thiếu máu mang tính hồng cầu non và to.

Đồng thời còn ảnh hưởng tới tế bào hạt, tế bào hạt lớn và các tế bào khác. Bệnh thiếu máu mang tính hồng cầu non và to thường gặp ở trẻ sơ sinh và phụ nữ mang thai. Bệnh này có thể điều trị bằng axit folic, bởi vậy, axit folic còn được gọi là vitamin chống thiếu máu (axit folic còn gọi là vitamin M). Ở những người bình thường, ngoài thức ăn cung cấp axit folic ra, thì vi khuẩn đường ruột ở người cũng có thể hợp thành axit folic bộ phận, do vậy nhìn chung không dễ thiếu chất này. Trong khi đó phụ nữ mang thai, người già, người nghiện rượu, người dùng thuốc tránh thai và thuốc chống ung thư đều là những đối tượng có nguy cơ thiếu axit folic cao.

Bổ sung Axit folic trước khi mang thai

Trung tâm khống chế bệnh tật của Mỹ đã khuyến cáo: Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên bổ sung 0.4 mg axit folic! mỗi ngày, phụ nữ mang thai cần 0.8 mg, những phụ nữ sinh đa thai hoặc mắc bệnh thiếu máu mang tính máu tan trong thời gian dài ngoài mức quy định ra còn cần bể sung thêm 2~0.4 mg, phương án bổ sung căn cứ theo từng trường hợp cụ thể. Axit folic có trong rau lá xanh, thịt, cá, trứng, gan động vật, tiểu mạch, ngũ cốc, các loại đậu. Những hoa quả chứa axit folic như: Quýt, đào, táo, nho, anh đào, hải đường, sơn trà,…