Những biện pháp và nguyên tắc nuôi dưỡng thai

Có rất nhiều biện pháp nuôi dưỡng thai, thường gặp nhất là:

Nuôi dưỡng thai bằng âm nhạc

Nuôi dưỡng thai bằng âm nhạc

Điều này có chức năng đặc biệt đối với trí lực thai nhi. Âm nhạc là mắt xích tạo dựng nên mối quan hệ thân thiết giữa người mẹ và thai nhi. Tiếng nhạc du dương, trầm bổng và cảm động đều có thể khiến người mẹ sảng khoái trong lòng, mang lại cảm giác yên bình cho thai nhi. Tiếng nhạc là một kích thích tích cực đối với sự phát triển tích cực của não thai nhi. Sinh lý học thần kinh cho rằng âm nhạc lành mạnh có thể kích thích những chất như men bài tiết và axetin cholin ở ngoài mẹ tương lai. Điều tiết lượng máu của người mẹ tương lai và thúc đẩy tế bào thần kinh hưng phấn, từ đó thay đổi tình trạng cung cấp máu tới cuống rốn, thúc đẩy thai nhi phát triển.

Nuôi dưỡng thai nhi bằng lời nói

Nuôi dưỡng thai bằng lời nói - Trò chuyện với thai nhi
Nuôi dưỡng thai bằng lời nói – Trò chuyện với thai nhi

Lời nói có thể kích thích sự phát triển tích cực của não thai nhi. Bố mẹ hãy thường xuyên trò chuyện với thai nhi bằng lời lẽ thân thiết, sinh động và hình tượng hóa, có thể kể chuyện, thuật lại nội dung một cuốn truyện tranh, cũng có thể nói với trẻ những sự việc vui vẻ trong cuộc sống thường ngày, để trẻ quen với giọng nói thân thương của bố mẹ, cảm nhận được tình yêu thương của bố mẹ, đón nhận những kích thích mà bố mẹ mang tới. Ngoài ra, trong giai đoạn cuối thai kì, do thai nhi đã có khả năng nghe và cảm nhận, sẽ có một số phản ứng đối với lời nói và hành động của bố mẹ, hơn nữa còn lưu lại trong kí ức tới lúc sinh ra.

Nuôi dưỡng thai bằng cử chỉ âu yếm vỗ về

Cùng với tiết tấu âm nhạc, những cử chỉ của người mẹ qua thành bụng truyền tới thai nhi như xoa nhẹ, ấn tay, vỗ nhẹ… có thể dẫn tới phản xạ có điều kiện ở thai nhi, kích thích tính tích cực hoạt động cuả thai nhi. Đây không chỉ là cách “giao lưu” mật thiết giữa mẹ và con, mà còn có lợi cho sự phát triển trí lực và tình cảm của thai nhi, hơn nữa sau khi sinh ra, động tác của trẻ nhanh nhẹn, biết đi tương đối sớm và vững. Nuôi dưỡng thai bằng cách này nên tiến hành vào buổi tối, từ 3-5 phút.

Nuôi dưỡng thai bằng văn học

Nuôi dưỡng thai bằng văn học - Đọc sách cho "con" nghe
Nuôi dưỡng thai bằng văn học – Đọc sách cho “con” nghe

Đọc những tác phẩm văn học nổi tiếng, đặc biệt là những câu chuyện ngụ ngôn, truyện ngắn, truyện cổ tích, thơ, tiểu thuyết ngắn. Song, cần chú ý không nên đọc quá lâu, khi độc không nên quá xúc động.Khi viết nhật ký nuôi dưỡng thai, tốt nhất viết ra những cảm xúc thật và cụ thể, mang giọng điệu văn học, miêu tả thật sinh động quá trình mang thai, dưỡng thai với bao vất vả, cực nhọc xen lẫn niềm sung sướng.

Nuôi dưỡng thai bằng sự tưởng tượng

Có nghĩa là gửi hi vọng vào tương lai, tưởng tượng mọi điều tốt đẹp về thai nhi, những cảnh đẹp nhìn thấy, tưởng tượng thấy đều dành cho thai nhi, làm vậy tinh thần thoải mái, máu lưu thông,, thai ổn định. Đầy ắp những tưởng tượng phong phú có thể điều tiết năng lượng trong cơ thể phụ nữ mang thai. Tăng cường tình cảm đối với thai nhi, cảm thấy tràn đầy niềm tin đối với cuộc sống.

Nuôi dưỡng thai bằng cảm xúc

Cơ thể khỏe mạnh, tâm hồn vui vẻ, tâm tư thoải mái có thể khiến thai nhi cảm giác an toàn, kích thích hệ thần kinh, các cơ quan cảm giác của thai nhi phát triển. Do vậy, phụ nữ mang thai cần duy trì tâm tư vui vẻ và trạng thái tình cảm tích cực, tránh những trạng thái như lo nghĩ, sốt ruột, căng thẳng là ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Bố mẹ hãy nuôi dưỡng thai nhi bằng những tình cảm yêu thương chân thành nhất của mình. Hát cho thai nhi nghe, trò chuyện cùng thai nhi bằng giọng điệu thân thiện, ấm áp, tràn đầy cảm xúc yêu thương.

Nuôi dưỡng thai bằng môi trường

Mặc dù thai nhi không nhìn thấy môi trường bên ngoài, song có thể nghe thấy âm thanh của môi trường bên ngoài, những ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực từ môi trường bên ngoài có thể truyền tới thai nhi qua cảm nhận của người mẹ. Do vậy chỗ ở của phụ nữ mang thai nên yên tĩnh, thoải mái, thoáng mát, ngoài ra phụ nữ mang thai còn cần thường xuyên ra ngoài đi bộ, tiếp xúc với tự nhiên, cố gắng làm phong phú tâm hồn thai nhi bằng những ảnh hưởng tích cực.

Nuôi dưỡng thai bằng thức ăn

Phụ nữ mang thai cần nghiên cứu thực đơn một cách hợp lý. Ăn uống đủ dinh dưỡng trong thời gian mang thai. Tức là đủ thành phần protein, vitamin, nguyên tố vi lượng, ngoài ra còn cần chú ý tới màu sắc, mùi vị, hương vị, hình dạng, chất lượng (khẩu vị). Những thức ăn như vậy vừa có thể đảm bảo đủ dinh dưỡng, vừa kích thích ham muốn ăn.

Ngoài ra còn nuôi dưỡng thai bằng vận động, nuôi dưỡng thai bằng mỹ học, nuôi dưỡng thai bằng chiếu sáng.

Nguyên tắc nuôi dưỡng thai

Nguyên tắc nuôi dưỡng thai vốn là chuẩn tắc mà con người buộc phải tuân thủ khi tiến hành dưỡng thai, nó vừa phản ánh quy luật khách quan của dưỡng thai, đồng thời còn là những khái quát và tổng kết từ kinh nghiệm thực tế từ xa xưa. Nó có tác dụng chỉ đạo vô cùng quan trọng đối với hoạt động dưỡng thai cụ thể xuyên suốt qúa trình nuôi dưỡng thai. Tự giác tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của việc dưỡng thai, là tiền đề bảo đảm dưỡng thai thành công.

  • Nguyên tắc tự giác: yêu cầu phụ nữ mang thai chủ động học tập và vận dụng phương pháp dưỡng thai dựa trên cơ sở xác định nghiêm túc ý nghĩa quan trọng của việc nuôi dưỡng thai, từ đó tiến hành dưỡng thai một cách có mục đích và kế hoạch.
  • Nguyên tắc mang tính kịp thời: Quá trình dưỡng thai mang tính trình tự không thể đảo lộn, do vậy, cần tiến hành việc dưỡng thai sớm và kịp thời. Nếu không, để lỡ thời cơ dưỡng thai tốt nhất, rồi mới chọn biện pháp thì khó mà bù đắp nổi. Nhìn chung, thời kì quan trọng nhất để nuôi dưỡng thai là từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 7.
  • Nguyên tắc mang tính khoa học: Đọc những tư liệu khoa học có liên quan như giáo dục học, tâm lý học, sinh lý học và ưu sinh học. Dựa theo quy luật cơ bản của quá trình nuôi dưỡng thai để lựa chọn biện pháp nuôi dưỡng thai thỏa đáng, giúp thai nhi phát triển thuận lợi hơn, khỏe mạnh hơn trong cơ thể mẹ.
  • Nguyên tắc mang tính cá biệt: Dựa theo tình hình cụ thể của bản thân phụ nữ mang thai và gia đình để chọn ra biện pháp thích hợp . Do khí chất, tính cách, trí lực, năng lực… ở mỗi phu nữ mang thai mỗi khác, nên chọn hướng đi và biện pháp dưỡng thai cũng khác nhau tương ứng. Ngoài ra , điều kiện kinh tế, bối cảnh văn hóa và niềm vui với cuộc sống cũng sẽ mang tới hàng loạt những ảnh hưởng đối với việc nuôi dưỡng thai. Tuân thủ nguyên tắc mang tính cá biệt có thể phát huy mặt mạnh, che giấu mặt yếu, thu được kết quả tương đối tốt.

Cần quan tâm tới tâm lý phụ nữ khi mang thai

Vì sao khi mang thai phải tăng cường điều tiết tâm lý?

Bổ sung "dinh dưỡng tâm lý" khi mang thai
Bổ sung “dinh dưỡng tâm lý” khi mang thai

Ai cũng hi vọng có con thông minh, đáng yêu, do vậy, sau khi phụ nữ mang thai ngoài tăng cường món ăn cho phụ nữ mang thai, mọi người còn nghĩ cách mua nhiều thực phẩm bổ dưỡng để đảm bảo nhu cầu sức khỏe của cả mẹ và bé, xong lại thường xem nhẹ việc cung cấp dinh dưỡng tâm lý – tâm tư ổn định vui vẻ cho phụ nữ mang thai

Khi mang thai sự biến đổi sinh lý trong cơ thể phụ nữ mang thai kéo theo những biến đổi về tâm lý, như thời kỳ đầu mang thai bị “nghén” dẫn tới hàng loạt hiện tượng như buồn nôn, nôn mửa, tâm tư rối loạn, không ít phụ nữ mang thai lo sợ lúc đau đẻ. Còn có những người sợ không sinh được con trai hay con gái như mong muốn, khiến vợ chồng cứ trách cứ lẫn nhau. Do vậy phụ nữ mang thai thường rơi vào trạng thái căng thẳng, tâm lý không ổn định, lo âu, bởi vậy, hơn lúc nào hết, phụ nữ trong thời kỳ mang thai khao khát được quan tâm chăm sóc. Họ không chỉ cần giải tỏa tâm lý căng thẳng không đáng có, mà còn cần sống trong môi trường vui vẻ, thoải mái. Do vậy, người chồng nên thường xuyên đi bộ, nghe nhạc, thưởng thức những bức tranh nghệ thuật cùng vợ. Phụ nữ mang thai không nên xem những phim truyền hình và phim điện ảnh rùng rợn, bi thương hoặc kích thích xấu để tránh mệt mỏi, bực bội trong lòng, như vậy mới có lợi cho sức khỏe về thể xác và tâm hồn của cả mẹ và con.

Ngược lại phụ nữ mang thai không được đáp ứng về tâm lý rất dễ phát sinh tâm tư tiêu cựcnhư lo âu, bất an, muộn phiền. Tâm tư không tốt càng làm phản ứng mang thai thêm trầm trọng, khiến phụ nữ mang thai không thiết ăn uống, ảnh hưởng tới việc hấp thu dinh dưỡng. Thậm chí còn làm thay đổi chức năng tuyến bài tiết trong cơ thể và thành phần máu làm tăng lượng chất hóa học có hại cho hệ thống thần kinh và tổ chức tâm huyết quản, hơn thế những chất hóa học này còn vào thai nhi qua cuống rốn, gây cho thai nhi cảm giác bất an, khiến số lần thai cử động tăng mạnh. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của thai nhi, sau khi được sinh ra, cơ thể sẽ yếu đuối, hay quấy khóc, lớn lên tâm tư thường bị kích động, năng lực tự kiểm soát kém, dễ mắc bệnh tật. Phụ nữ mang thai có tâm tư u uất trầm trọng còn dẫn tới dị tật ở thai nhi, thậm chí xảy thai. Tâm tư căng hẳng là nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh sứt môi, hở hàm ếch ở tre.

Có thể thấy ngoài việc cugn cấp đủ dinh dưỡng vật chất phong phú ra, còn cần cung cấp nhiều “dinh dưỡng tâm lý” cho phụ nữ mang thai.

Khi mang thai, tâm tư không tốt ảnh hưởng tới thai nhi như thế nào?

Tâm lý phụ nữ mang thai không tốt ảnh hưởng tới thai nhi như thế nào
Tâm lý phụ nữ mang thai không tốt ảnh hưởng tới thai nhi như thế nào

Bà mẹ vui vẻ hay lo lắng, có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi, sự lo lắng bất an, hoảng hốt kéo dài còn có thể hình thành nên tính cách không ổn định ở trẻ sau khi sinh ra. Tuần mang thai từ thứ 7-10, phụ nữ mang thai quá lo lắng dễ dẫn tới sảy thai. Để đảm bảo sinh ra một đứa bé khỏe mạnh, hoạt bát, thông minh, người mẹ nên đảm bảo tâm tư vui vẻ và tinh thần thoải mái trong suốt thời gian mang thai, tránh có tâm tư tiêu cực như bi thương, u uất…

  • Nên cởi mở cõi lòng, lạc quan yêu đời, tránh đau khổ, lo âu và căng thẳng
  • Tạo môi trường sống phong phú, đẹp đẽ. Thường xuyên dã ngoại hít thở không khí trong lành, ngắm cảnh sắc thiên nhiên, thưởng thức tác phẩm nghệ thuật, ngắm chậu cây cảnh.
  • Ăn uống sinh hoạt quy củ, nghỉ ngơi đúng giờ, lao động và rèn luyện thể thao hợp lý. Ăn mặc gọn gàng, luôn tươi tắn đều rất có lợi cho sức khỏe bản than và thai nhi
  • Thường nghe những ca khúc hay, đọc truyện cổ tích…Không nên xem tivi, phim ảnh, băng đĩa hoặc tiểu thuyết kích động gay cấn tình cảm lâm ly…

Ngoài ra, người chồng nên hiểu khi mang thai, người vợ sẽ có những biến đổi tâm lý, sinh lý gì để từ đó tăng cường an ủi, động viên, quan tâm tới vợ nhiều hơn, tạo môi trường sống tốt đẹp, đây là món quà đầu tiên tốt nhất mà người bố dành cho con.

Chăm sóc giấc ngủ cho phụ nữ mang thai

Vì sao phụ nữ mang thai không nên ngủ trên giường trải đệm siêu mềm?

Phụ nữ mang thai không nên ngủ trên giường trải đệm siêu mềm
Phụ nữ mang thai không nên ngủ trên giường trải đệm siêu mềm

thế ngủ của con người thay đổi liên tục trong suốt một đêm, quay phải, quay trái, nằm ngửa, quay đi quay lại tới 20 lần, làm vậy giúp vỏ não giảm bớt ức chế, khiến giấc ngủ ngon hơn. Tuy nhiên giường có đệm siêu mềm sẽ khiến phụ nữ mang thai nằm “lún sâu” trong đó, khó có thể xoay mình, khi phụ nữ mang thai nằm ngửa, tử cung đồ sộ sẽ ép động mạch chủ của bụng và tĩnh mạch bụng dưới khiến máu cung cấp cho tử cung giảm, không tốt cho thai nhi. Tĩnh mạch bụng dưới chịu áp lực dẫn tới hiện tượng phồng tĩnh mạch ở chân, bộ phận sinh dục ngoài và trực tràng, có một số người vì vậy mà mắc bệnh trĩ. Khi nằm nghiêng sang phải, hiện tượng trên biến mất, nhưng thai nhi có thể ép ống dẫn tiểu phải, do hiện tượng kết tràng có quan hệ “láng giềng” với thận phải, nên tỷ lệ mắc bệnh viêm thận, bể thận tăng cao. Khi nằm nghiêng sang trái, hiện tượng này mặc dù hết nhưng tim lại chịu áp lực, những thứ trong dạ dày không dễ dàng bài tiết theo đường ruột giống như nằm nghiêng bên phải. Tốt nhất phụ nữ mang thai nên liên tục thay đổi tư thế nằm nghiêng sang trái, nghiêng sang phải, song nằm trên giường trải nệm siêu mềm sẽ khó làm được như vậy.

Phụ nữ mang thai không nên ngủ trên giường trải đệm siêu mềm vì xương sống của phụ nữ mang thai to hơn phần lưng cong về phía trước lúc bình thường, khi nằm ngủ trên giường trải đệm siêu mềm, xương sống với hình vòng cung sẽ khiến các khớp nhỏ ở sống lưng vốn đã cong về phía trước ma sát nhiều hơn. Khi nằm nghiêng, xương sống cũng cong theo mặt nghiêng. Cứ thế lâu dần sẽ khiến vị trí của xương sống di chuyển, chèn lên thần kinh, tăng gánh nặng cho cơ lưng, vừa không thể giảm bớt mệt mỏi lại còn gây bất lợi cho việc phát huy chức năng sinh lý, đau lưng là biểu hiện thường gặp nhất.

Đệm dày khoảng 9cm trải trên giường gỗ, gối mềm với độ cao phù hợp sẽ thích hợp nhất cho phụ nữ mang thai, như vậy đảm bảo có lợi cho cả mẹ và con.

Khi mang thai nên chọn tư thế ngủ thế nào?

Tư thế ngủ đúng có thể khiến giấc ngủ sâu hơn, giảm bớt mệt mỏi trong ngày, đảm bảo sức lực dồi dào để bắt đầu vào ngày làm việc, học tập kế tiếp. Ngủ đúng tư thế càng có ý nghĩa quan trọng đối với phụ nữ mang thai. Nó có mối liên quan tới sức khỏe, nghỉ ngơi an toàn của cả người mẹ và thai nhi.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia, tư thế ngủ thích hợp nhất cho phụ nữ mang thai là nằm nghiêng sang trái, đặc biệt từ tháng mang thai thứ 7 trở đi, nhất định phải nằm nghiêng sang trái. Vì sao không thể chọn tư thế ngủ khác? Đó là vì phía sau của phụ nữ mang thai là động mạch và tĩnh mạch to (y học gọi đó là động mạch chủ vùng bụng và tĩnh mạch bụng dưới). Những huyết quản lớn này hướng lên trên là tới tim, hướng xuống dưới là chân và bộ phận sinh dục ngoài, chúng vận chuyển máu từ tim tới khắp các bộ phận của cơ thể, rồi lại đưa máu từ khắp nơi trở về tim. Nếu phụ nữa mang thai nằm ngửa, tử cung “đồ sộ” có thể ép động mạch chủ vùng bụng và tĩnh mạch bụng dưới. Động mạch chủ vùng bụng bị ép khiến lượng máu cung cấp cho tử cung và cuống rốn giảm rõ rệt, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của thai nhi. Tĩnh mạch bụng dưới bị ép, có thể khiến máu ở chân và bụng dưới không thể nhanh chóng quay trở về tim, gây ra hiện tượng phồng tĩnh mạch, phù thũng ở chân và bộ phận sinh dục ngoài. Phụ nữ mang thai còn có thể xuất hiện các triệu chứng như choáng váng, tức ngực, buồn nôn, nôn mửa, huyết áp giảm,… thậm chí còn gây nguy hại lớn hơn cho phụ nữ mang thai và thai nhi.

Vậy sao không chọn tư thế ngủ nằm nghiêng sang phải? Nếu phụ nữ mang thai nằm nghiêng sang phải, tử cung to lớn của phụ nữ mang thai có thể chèn ép các cơ quan khác trong bụng. Sau khi kết tràng chữ S ở bụng dưới bị chèn ép, tử cung có thể xoay chuyển sang phải với các mức độ khác nhau khiến dây chằng và màng liên kết (có tác dụng duy trì vị trí bình thường của tử cung) ở vào trạng thái cấp bách. Huyết quản nuôi dưỡng tử cung trong màng liên kết bị kéo dài, sẽ ảnh hưởng tới việc cung cấp oxi cho thai nhi, khiến thai nhi thiếu oxi theo kiểu “từ từ”. Do vậy, tư thế nằm nghiêng sang trái có thể giúp tử cung trở về tư thế thẳng của mình (tử cung lệch sang phải khi mang thai), giảm bớt sự khác thường của vị trí thai hoặc khó khăn lúc sinh do tử cung lệch phải gây ra.

Phụ nữ mang thai chọn tư thế nằm nghiêng sang trái còn có thể phòng và chống hội chứng huyết áp cao thai nghén. Bởi vì nằm nghiêng sang trái có thể tránh áp lực tử cung lên thận, khiến thận duy trì đủ máu, đảm bảo hoạt động tốt, giảm bớt 3 bệnh lớn: huyết áp cao, phù thũng, tiểu abumin. Có người cho rằng chọn tư thế nằm ngửa ở giai đoạn cuối thai kì có thể khiến lượng máu ở thận và khả năng lọc của tiểu cầu thận thấp hơn 20% so với chọn tư thế nằm nghiêng. Nghiên cứu cho thấy khả năng mắc hội chứng huyết áp cao thai nghén ở những phụ nữ mang thai có xét nghiệm lật chuyển dương tính tương đối cao. Xét nghiệm lật chuyển được tiến hành như sau: Trước hết cho phụ nữ mang thai nằm nghiêng, cứ 5 phút đo huyết áp 1 lần, đợi khi huyết áp ổn định đột ngột chuyển tư thế nằm ngửa, lúc này những người có áp lực tim tăng lên 2000Pa thì gọi là xét nghiệm lật chuyển dương tính.

Ngoài ra, vị trí nằm nghiêng sang trái còn có lợi cho việc bài tiết những chất độc sau khi sinh, tránh tử cung tụt về phía sau do nằm ngửa lâu ngày gây ra, dẫn tới bệnh đau lưng sau này.

Phụ nữ mang thai ngủ nghiêng sang trái có những lợi ích gì?

Phụ nữ mang thai nên ngủ nghiêng sang trái
Phụ nữ mang thai nên ngủ nghiêng sang trái

Sau khi mang thai, thai nhi trong tử cung người mẹ ngày một lớn lên, khiến tử cung bình thường chỉ bé bằng quả lê dần trở thành 1 quả dưa hấu (khi mang thai đủ tháng), tăng gấp 6 lần so với khi chưa mang thai. Cùng với sự phát triển của tử cung, rõ ràng tư thế ngủ của bà mẹ cũng ngày càng quan trọng, đặc biệt là vào giai đoạn cuối thai kỳ (tháng thứ 7-9). Các chuyên gia cho rằng, phụ nữ mang thai nên chọn tư thế ngủ nghiêng sang trái là tốt nhất. Trong khi mang thai, đặc biệt là giai đoạn cuối của thai kỳ, phụ nữ mang thai chọn tư thế nằm nghiêng sang trái có 4 ưu điểm sau:

  • Có thể giảm bớt áp lực của tử cung lên động mạch chủ và động mạch xương chậu, từ đó duy trì lượng máu cần thiết cho động mạch tử cung, đảm bảo cung cấp đủ máu cho thai nhi, cũng như cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho thai nhi.
  • Có thể giảm bớt áp lực của tử cung lên tĩnh mạch bụng dưới, tăng lượng máu chảy về tim. Do vậy vừa có thể khiến lượng máu ở thận tăng, lượng nước tiểu tăng, mà còn có thể cải thiện được tình hình cung cấp máu tới tổ chức não, điều này vô cùng có lợi cho phụ nữ mang thai trong việc đẩy lùi hoặc phòng chống hội chứng huyết áp cao thai nghén, có thể làm giảm phù thũng, tránh không bị chuột rút.
  • Khi mang thai tử cung bị lệch về bên phải, do vậy nằm nghiêng về bên trái có thể cải thiện được mức độ lệch, giảm bớt sự giãn nở của huyết quản tử cung, khôi phục lại tư thế thẳng đứng của huyết quản, do vậy đảm bảo đủ lượng máu cho cuống rốn.
  • Nằm nghiêng sang trái có thể tăng lưu lượng máu của cuống rốn, do vậy có thể cải thiện được tình hình cung cấp oxi cho thai nhi trong tử cung, có lợi cho sự phát triển của thai nhi, giảm bớt tỷ lệ sinh trẻ thiếu cân hoặc tử vong khi sinh. Đặc biệt chọn tư thế nằm nghiêng sang trái vô cùng có hiệu quả đối với thai nhi phát triển chậm.

Vì sao phụ nữ mang thai không nên nằm thảm nhiệt điện?

Trước đây nhận thức của con người về vấn đề này chỉ dừng lại ở giai đoạn đầu. Một số nhà khoa học quan sát thấy trong số những bà mẹ sinh ra trẻ khuyết tật, có không ít bà mẹ thích nằm thảm nhiệt điện, những người sống gần đường dây cao áp thường xuyên thấy đau đầu, tinh thần mệt mỏi, lượng sữa tiết ra từ những con bò cái thường ăn cỏ dưới đường dây cao áp cũng giảm, bê con sinh ra có hiện tượng dị tật. Các nhà khoa học cho rằng, khi con người sử dụng thảm nhiệt điện, do giữa cơ thể và thảm nhiệt điện đều tồn tại điện dung nên dù thảm nhiệt điện có đặt tiêu chuẩn tới đâu, cũng đều sinh ra điện áp cảm ứng, gây ảnh hưởng tới cơ thể người.

Điện áp cảm ứng giữa cơ thể người và thảm nhiệt điện có thể đạt tới 40-70V, hơn nữa sinh ra cường độ dòng điện 15uA. Dòng điện này dù nhỏ nhưng do thảm nhiệt điện áp chặt vào lưng phụ nữ mang thai, bởi vậy có thể gây nguy hại tiềm ẩn đối với thai nhi khi đang ở giai đoạn phát triển.

Vì sao phụ nữ mang thai cần duy trì giấc ngủ trưa?

Phụ nữ mang thai nên duy trì giấc ngủ trưa
Phụ nữ mang thai nên duy trì giấc ngủ trưa

Thời gian ngủ của phụ nữ mang thai nên nhiều hơn một chút so với lúc chưa mang thai, nếu bình thường ngủ khoảng 8 tiếng thì khi mang thai ngủ khoảng 9 tiếng. Tăng thời gian ngủ tốt nhất nên vào buổi trưa, dù là mùa xuân, mùa hạ, mùa thu hay mùa đông, ăn trưa xong một lúc cũng nên nằm xuống ngủ một giấc thoải mái.

Thời gian ngủ trưa tùy thuộc và từng người, tùy thuộc vào từng lúc, miễn sao cho thoải mái là được, nửa tiếng đến một tiếng, thậm chí có thể kéo dài hơn. Bình thường nếu cảm thấy cơ thể mệt mỏi, cũng có thể nằm xuống nghỉ ngơi một chút.

Tư thế và động tác đúng trong thời gian mang thai

Thời kì đầu mang thai, dễ bị sảy thai là do cuống rốn chưa phát triển hoàn thiện. Bởi vậy, cần chú ý tránh chèn ép vùng bụng. Cùng  với sự phát triển của thai nhi ở kì giữa và kì cuối thai ki, bụng bà mẹ ngày một to ra, trọng tâm của cơ thể rõ ràng biến đổi, tăng gánh nặng cho sống lưng và cơ bắp vùng lưng, dễ dẫn tới mỏi mệt, đau lưng, mang tới nỗi thống khổ cho phụ nữ mang thai. Do vậy, phụ nữ mang thai cần duy trì tư thế đúng đắn.

Tư thế và động tác đúng khi mang thai
Tư thế và động tác đúng khi mang thai

1.Tư thế đứng

Khi đứng, thẳng người, đầu ngẩng, mông và cơ bắp vùng bụng thu gọn lại, như vậy có thể đảm bảo xương chậu không bị lệch, thai nhi cũng có thể duy trì vị trí của mình. Đồng thời, hai chân khép lại sẽ khiến trọng tâm ở gần lòng bàn chân, làm vậy đỡ mỏi mệt. Nếu phải đứng trong thời gian dài, vài phút thay đổi vị trí chân một lần để giảm bớt mệt mỏi.

2.Tư thế đi

Rất nhiều phụ nữ mang thai đi với tư thế khom lưng hoặc ưỡn ngực quá mức, như vậy là sai tư thế. Tư thế đúng là, ngẩng đầu, lưng, cổ thẳng, thu gọn mông, làm vậy bụng có vẻ cao lên, đi với tư thê toàn thân thăng bằng. Khi đi, bước nhẹ nhàng từng bước một, bước này nốì tiếp bước kia.

3.Tư thế ngồi

Ngồi trên ghế lưng thẳng, không ngồi ở thành ghế kẻo trơn ngã. Lưng, mông sát với cho tựa lưng của ghế, toàn thân thả lỏng. Không nên ngồi “phịch” một cái xuống ghế, kẻo bị ngã do ghế kê không chắc. Khi ngồi xuống phải nhẹ nhàng, lúc đứng dậy, lưng vươn ra trước rồi mới đứng hai chân lên. Nếu phải ngồi lâu thấy mỏi, cũng có thể chọn tư thế quỳ gối, thẳng lưng.

4.Tư thế lên, xuống cầu thang

Khi lên, xuống cầu thang không nên khom lưng hoặc ưỡn ngực quá mức, cần thẳng lưng. Khi leo cầu thang, mũi chân chạm đất trước rồi mới đặt cả chân, leo cẩn thận từng bậc một, chú ý kẻo ngã. Tới giai đoạn cuối của thai kì, càng hết sức cẩn thận vì lúc này bụng lồi ra đã chắn mất tầm nhìn, không còn nhìn thấy chân nữa, nêu cầu thang có tay vịn, thì nên vịn.

5.Tư thế ngồi dậy

Khi đang nằm ngửa trên giường, muốn ngồi dậy thì trước hết chuyển sang nằm nghiêng, rồi dậy  từ từ. Tránh sử dụng trực tiếp cơ bụng để ngồi dậy.

6.Tư thế lấy đồ vật

Khi lấy đồ vật ở dưới đất, cần đảm bảo tư thế lưng thẳng để các khớp xương hông cong lại, ngồi xổm hoặc một chân quỳ xuống, dựa sát vào đồ vật cần lấy, sau đó duỗi đầu gối rồi cầm lên. Tức là cong gối trước. Ngồi xuống sau, ngồi xổm rồi mới lấy. Hết sức tránh chèn ép vùng bụng, không nên chọn tư thế nghiêng người lấy mà không quỳ gối, làm vậy rất dễ bị đau lưng.

7.Tư thế là quần áo

Khi là quần áo, chân cùng phía với tay, không cầm bàn là chếch ra đằng trước hoặc bên ngoài  một bước, xoay chuyển lưng để là.

Tóm lại, trong suốt thời gian mang thai cần đặc biệt chú ý tới mọi động tác trong cuộc sống hàng ngày, bảo đảm tư thế có thể đúng đắn, những bà mẹ trẻ lần đầu mang thai, tốt nhất nên luyện tập những tư thế và động tác này trước khi mang thai

Phụ nữ mang thai liệu có sinh ra trẻ bị dị tật không?

Có một số người, gồm cả phụ nữ mang thai, bị dị ứng sau khi ăn tôm tươi, động vật nhuyễn thể, baba, trứng gà, sữa đậu nành, nấm, sữa bò,…toàn thân mẩm ngứa, khó chịu, hơn nữa nổi mụn giống như lên sởi, mụn đỏ, mụn nước. Có khi kèm theo buồn nôn, nôn mửa, thậm chí đau bụng đi ngoài, tuy nhiên người bệnh lại không phải mắc bệnh, y học gọi đó là mẫn cảm với thức ăn. Mụn sởi và mụn do dị ứng thức ăn gây ra về hình thức là giống nhau, song bản chất lại khác nhau, bởi vậy các bà mẹ không nên quá lo lắng khi thấy mình nổi mụn do dị ứng thức ăn, lo sợ chúng sẽ ảnh hưởng tới thai nhi trong bụng. Lo lắng như vậy là thừa.

Dị ứng khi mang thai có thể sinh ra trẻ bị dị tật không
Dị ứng khi mang thai có thể sinh ra trẻ bị dị tật không

Chúng ta cùng làm rõ một chút, dị ứng thức ăn xảy ra thế nào? Trước hết, điều mọi người băn khoăn là, vì sao đa số phụ nữ mang thai không bị dị ứng thức ăn mà một số ít lại có hiện tượng này? Điều đó có liên quan tới nhân tố trên hai phương diện trong và ngoài. Xét nhân tố từ bên ngoài, những thức ăn kể trên đa phần là thức ăn từ động vật giàu protein, vốn có thể gây dị ứng cho cơ thể. Thông thường, sở dĩ không xảy ra hiện tượng dị ứng thức ăn là do dưới tác dụng của các loại men tiêu hóa được bài tiết từ hệ thống tiêu hóa của cơ thể, chủ yếu là men phân giải protein, thức ăn mà chúng ta ăn được phân giải thành axit amin phân tử nhỏ, sau đó lại được hấp thụ. Mà những phân tử nhỏ không có khả năng gây ra phản ứng mẫn cảm – tính kháng nguyên, do đó sẽ không xảy ra hiện tượng dị ứng thức ăn. Xét nhân tố từ bên trong cơ thể, một số người thể chất vốn mẫn cảm, hệ thống tiêu hóa bị trục trặc ở khâu nào đó, ví như tổ chức tổ chức thượng bì của đường ruột bị tổn thương nhỏ hoặc bị viêm nhiễm, lúc này lượng men phân giải protein tiết ra không đủ, do vậy thức ăn chứa nhiều protein đã không được phân giải và hấp thu đầy đủ, khiến hình thành nên một số chất đại phân tử, như quá nhiều peptit. Lúc này, nếu tổ chức thành ruột bị tổn thương, và có thiếu sót sẽ khiến những chất dạng này chui vào những lỗ hổng, từ đó vào máu. Do những đại phân tử này quá lớn, mà khi đã đạt tới một mức độ nào đó sẽ  sinh ra tính kháng nguyên, cũng chính là kích thích cơ thể người sản sinh ra đặc tính kháng thể khác thường tương ứng. Đây vốn là một cơ chế bảo vệ của cơ thể, có lợi cho cơ thể con người. Tuy nhiên, khi lượng kháng nguyên vượt quá lượng kháng thể của con người, hoặc phản ứng kháng thể kháng nguyên xảy ra quá mãnh liệt khác thường thì có thể gây ra phản ứng miễn dịch bệnh lý, tức là phản ứng mẫn cảm hoặc phản ứng biến thái. Kết quả là, sẽ giải phóng các loại chất hoạt tính sinh vật như hixtamin. Từ đó kích thích cơ xương bằng thu nhỏ, huyết quản lông tơ giãn ra, tính thẩm thấu tăng, đồng thời còn khiến tuyến thể bài tiết nhiều hơn. Phản ứng mẫn cảm (dị ứng) xảy ra ở da, khiến da nổi mụn, mẩn đỏ, ảnh hưởng tới hệ thống tiêu hóa, gây buồn nôn, nôn mửa, đi ngoài. Đây chẳng qua là vị trí xảy ra dị ứng khác nhau mà thôi. Do vậy chỉ khi thức ăn được phân giải đầy đủ qua hệ thống tiêu hóa của cơ thể thành nhưững phân tử nhỏ, sau đó hấp thu thì mới không xảy ra hiện tượng dị ứng thức ăn.

Từ đó có thể thấy, mụn do dị ứng thức ăn và mụn sởi là hai bệnh hoàn toàn khác nhau. Mụn sởi là bị nhiễm khuẩn sinh ra, có thể gây hại cho thai nhi qua cuống rốn. Còn mụn do dị ứng thức ăn chỉ là một phản ứng biến thái, không ảnh hưởng tới sự phát triển và sức khở của thai nhi. Hiện nay trên thế giới chưa có tư liệu nào cho thấy phụ nữ mang thai bị dị ứng thức ăn khiến thai nhi dị tật.

Nói về cách phóng chống dị ứng thức ăn, trước hết phải tìm hiểu rõ bản thân bị dị ứng với loại thức ăn nào. Nếu là thức ăn đắt đỏ như ba ba, thì phụ nữ mang thai có thể không nên ăn. Nếu là thức ăn bình thường như sữa bò, sữa đậu nành, trứng gà… có thể chọn cách hâm nóng để tiêu diệt kháng nguyên, nhiệt độ cao có thể khiến protein biến tính, giảm bớt một phần tác dụng gây dị ứng của kháng nguyên. Sau khi sinh có thể chọn biện pháp giảm dị ứng, bằng cách ăn một lượng nhỏ sau đó tăng dần lên để tăng sức chịu đựng cho cơ thể, từng bước hình thành tính chịu đựng cho cơ thể. Ngoài ra có thể tăng cường chất chống dị ứng cho cơ thể, bằng cách ăn nhiều thực phẩm có hàm lượng vitamin C, B1, B2 phong phú, có thể điều tiết tính thẩm thấu của huyết quản lông tơ, giảm bớt hiện tượng dị ứng. Do có quá nhiều nhân tố ảnh hưởng tới phản ứng mẫn cảm (dị ứng), một số người có thể tạm thời ngừng ăn thức ăn dễ gây dị ứng, sau một thời gian, những kháng thể có liên quan sẽ dần dần bị bài tiết ra ngoài, hơn nữa chức năng của hệ thống tiêu hóa được cải thiện trở lại, lúc này lại ăn những thức ăn đó sẽ không bị dị ứng nữa.

Một số lưu ý ăn uống trong khi mang thai

Thịt thỏ

Có người cho rằng, khi mang thai, phụ nữ không nên ăn thịt thỏ, bởi vì ăn thịt thỏ thì nhất định sẽ sinh ra trẻ “sứt môi”. Điều này không có cơ sở khoa học. Y học gọi “sứt môi” là hở hàm ếch, bệnh này là do người mẹ bị ảnh hưởng bởi một nhân tố nào đó khiến trẻ bị dị tật, mà không hề liên quan gì tới thịt thỏ.

Thịt thỏ có đặc điểm: nhiều protein, ít mỡ, cholesteron thấp. Nó chứa khoảng 21.5% protein, nhiều hơn gấp đôi thịt lợn, hơn 18.7% thịt bò, gần gấp đôi thịt dê, hơn 33% thịt gà. Mỡ trong thịt thỏ khoảng 3.8%, bằng 1/16 lần mỡ trong thịt lợn, 1/15 so với thịt bò, 1/7 so với thịt dê. Hàm lượng cholesteron trong thịt thỏ thấp hơn mọi loại thịt. Thịt thỏ còn chứa nhiều dịch nhầy, nó không thể thiếu đối với sự phát

triển của não và các tể chức thần kinh khác ở người. Thịt thỏ non, tổ chức kết đế ít, chất xơ nhiều, dễ tiêu hóa hơn so với thịt lợn, thịt bò, thịt dê và thịt gà, thịt thỏ là một loại thịt thích hợp cho phụ nữ mang thai. Do vậy, phụ nữ mang thai có thể yên tâm ăn thịt thỏ.

Lưu ý ăn uống khi mang thai

Lẩu

Lẩu là một món ăn ngon được mọi ngưòi yêu thích, đặc biệt khi thời tiết se lạnh, bạn bè ngồi tụ tập quanh nồi lẩu vừa thưởng thức hương vị đậm đà của thức ăn vừa tán chuyện gẫu, quả là một kiểu hựởng thụ. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai cần hết sức chú ý khi ăn lẩu, đề phòng “họa từ nồi lẩu mà ra”

Trước hết, phụ nữ mang thai cần đề phòng sán toxoplasmosis, bởi vì nguyên liệu của nồi lẩu đa phần là thịt dê, thịt bò, thịt lợn sống. Trong những lát thịt sống này rất có thể ẩn chứa ấu trùng gây bệnh cong thể hình. Cong thể hình là một loại kí sinh trùng gây bệnh truyền nhiễm ở người, gia súc và gia cầm. Tỷ lệ truyền nhiễm cong thể hình ở dê là 61.4%, lợn là 20.6%, bò là 13.2%. Toxoplasmosis sống kí sinh trong tế bào động vật bị bệnh này, chúng ta không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Thói quen ăn lẩu của con người là nhúng những lát thịt tươi non vào trong nổi lẩu, chỉ cân tái là đã ăn được, mà trong thời gian ngắn ngủi như vậy, ấu trùng không thể bị giết chết. Nếu chúng ta ăn những lát thịt đã bị nhiễm bệnh vào người, Toxoplasmosis chưa bị giết chết này sẽ vào ruột, xuyên qua thành dạ dày, theo máu phân tán khắp cơ thể. Phụ nữ mang thai lại không cảm nhận thấy bệnh này, có khi chỉ biểu hiện như một kiểu cảm lạnh, song ấu trùng lại có thể qua cuống rốn truyền nhiễm sang thai nhi, trường hợp nặng còn dẫn tới sảy thai, chết lưu hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển não thai nhi, thai nhỉ có thể bị dị tật như đầu bé, đầu to (não tích nước), không có não, 60% thai nhi có thể mắc bệnh này. Ngoài chết lưu, dị hình hoặc dẫn tới hiện tượng sảy thai ra thì khoảng 70% thai nhi nhiễm bệnh khi sinh ra vẫn bình thường, song do tổ chức tế bào bị tổn thương, phải vài năm hoặc 10 năm sau mới phát bệnh, biểu hiện là trí lực chậm phát triển; cũng có thể bị mù do viêm màng mạch trong mắt.

Thứ 2 là, phụ nữ mang thai cần đề phòng trúng độc khí than. Khi ăn lẩu trong nhà thường xảy ra hiện tượng trúng độc khí than, kết quả là, bữa ăn còn chưa kết thúc đã thấy đau đầu, chóng mặt, ù tai, hoa mắt, tay chân rã rời, thậm chí buồn nôn, nôn mửa. Những triệu chứng kể trên, nhiều người cứ tưởng là trúng độc thức ăn. Kì thực, lại là trúng độc khí than ô-xit cacbon bốc ra từ than vào cơ thể người thì khả năng nó kết hợp với huyết sắc tố mạnh hơn 270~300 lần so với khả năng khí oxi kết hợp vói huyết sắc tố, hơn nữa không dễ phân giải sau khi kết hợp, từ đó khiến máu mất khả năng vận chuyển oxi. Khi trong không khí có khoảng 0.06% ô-xít cacbon thì con người chỉ cần thở trong 1 tiếng đồng hồ sẽ bị trúng độc; Nếu nồng độ đạt 0.32% thì chỉ cần 30 phút, con người đã bị hôn mê, thậm chí tử vong. Khi ăn lẩu, vừa ăn vừa trò chuyện, than liên tục được cho thêm vào lò, khi than vừa cho vào hoặc khi lửa gần tắt là lúc sản sinh ra nhiều ô-xít cacbon nhất. Do vậy, khi ăn lẩu bằng bếp than trong nhà, nhất định cần chú ý, sau khi bếp bốc cháy mới được đặt lên bàn, ngoài ra, không nên ăn quá lâu, mở cửa sổ cho khí thông thoáng.

Thứ 3, phụ nữ mang thai cần đề phòng trúng độc gỉ đồng. Nồi lẩu được chế tạo từ đồng vàng và đồng tím & một thời gian thường sinh ra một lớp gỉ đồng màu xanh gọi là màu xanh gỉ đồng. Thành phần chủ yếu của nó là đồng axit cacbonic mang tính kiềm, có độc. Nếu nồi lẩu có gỉ mà không được cọ sạch sẽ, gỉ đồng sẽ hòa lẫn vào thức ăn sau khi ăn thức ăn vào, cơ thể người sẽ bị trúng độc gỉ đồng xuất hiện triệu chứng buồn nôn, nôn, nghiêm trọng còn bị mất nước, cơ thể rã rời. Ngoài ra, bị gỉ đồng kích thích trực tiếp, còn có thể khiến khoang miệng, đường dẫn thức ăn niêm mạc dạ dày nóng bỏng, bục nát. Có người còn tiểu ra máu, thiếu máu, vàng da,… Khi thấy có triệu chứng trúng độc gỉ đồng, kịp thời tới bệnh viện ngay. Để phòng chống trúng độc gỉ đồng, cần cọ rửa sạch sẽ nồi lẩu trước khi sử dụng. Cho một chút muối ăn vào giẻ có tẩm dấm rồi cọ, hiệu quả càng tốt.

Thịt cá thơm ngon, được mọi người yêu thích. Vì sao vậy? Xét từ góc độ dinh dưỡng, thịt cá chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết.

Lưu ý ăn uống khi mang thai - Lợi ích khi ăn cá

Hàm lượng protein trong cá không chỉ nhiều (khoảng 15%~20%) mà còn rất chất lượng, hàm lượng axit amin cần thiết trong nó có giá trị sánh ngang với người. Bởi vậy protein trong các loại cá tốt hơn bất cứ loại thịt nào. Ngoài  ra, thịt cá mềm, được tạo thành từ các thớ thịt mảnh, giữa các thớ thịt có tương đối nhiều chất kết keo mang tính hòa tan, sau khi hấp thụ chỉ mất đi 10~30% lượng nước, ít hơn 20-40% so với các loại thịt khác. Do vậy, cơ thể người có thể tiêu hóa và hấp thu thịt cá dễ dàng, thông thưòng, tỉ lệ tiêu hóa hấp thu đạt tới 96%

Hàm lượng mỡ trong cá thấp, chỉ khoảng 1~3%, chỉ có một số loại cá đặc biệt có hàm lượng mỡ cao, như mỡ của cá thì chiếm tôi 17%. Tuy nhiên, mỡ của cá đa phần là axit béo không bão hòa, chiêm hơn 80%. Không chỉ dễ tiêu hóa, hấp thu so với mỡ của các loại thịt khác, hơn nữa kết cấu hóa học cá cũng khác với các loại thịt khác chuỗi cacbon của axit béo không bão hòa tương đôi dài, có tác dụng rất tốt trong việc làm giảm cholestẹron.

Lượng muối vô cơ trong cá phong phú, trong đó photpho và kali tương đối nhiều, ngoài ra còn có đồng, cá biển còn chứa iốt, cô ban, flu-or.  Canxi trong cá cũng nhiều hơn các loại thịt khác. Đặc biệt cá nhỏ rán giòn, ăn được cả đầu, hàm lượng canxi càng cao.

Vitamin trong cá cũng tương đối nhiều. Ngoài chứa một ít hàm lượng vitamin Bi, vitamin B2, vitamin B12, cá còn chứa tương đối nhiều vitamin hòa tan trong mỡ, đặc biệt là hàm lượng vitamin A, vitamin D vô cùng phong phú, đỉều này có lẽ không một loại thịt nằo có thể sánh bằng.

Ngoài ra, các nhà khoa học phát hiện thấy ăn nhiều cá, có thể làm thay đổi tình trạng cơ thể người mẹ không cung cấp đủ máu cho cuống rốn. Máu được đưa tới cuống rốn chủ yếu vào động mạch xoắn ốc xuất phát từ màng trong tử cung. Có khoảng 100-150 động mạch xoắn ốc phân bố trong cuống rốn. Cùng với sự phát triển ngày một to ra của cuống rốn theo tuần thai, động mạch xoắn ốc cũng rộng dần theo như vậy mới có thể đảm bảo cho việc hấp thu đầy đủ dinh dưỡng của thai nhi. Ngược lại, có thể khiến cuống rốn không được cung cấp đủ máu, thai nhi phát triển. Khi động mạch xoắn ốc bị tắc, bị thu hẹp mang tính bệnh lý hoặc khi tắc động mạch thì có thể khiến thai nhi không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, dẫn tới tử vong. Axit béo không bão hòa trong cá có hoạt tính của nhiều loại dược lý, có thể ức chế sự sinh sôi của chất thúc đông máu A2, khiến độ nhầy của máu giảm, chất chống máu đông tăng, những hoạt tính này có tác dụng phòng chống tắc động mạch. Axit béo không bão hòa còn có thể khiến huyết quản giãn ra, từ đó khiến tĩnh mạch xoắn ốc nở rộng, đủ để vận chuyển chết dinh dưõng cần thiết tới thai nhi, thúc đẩy thai nhi phát triển. Photpho và lượng lớn axit amin trong cá còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của hệ thống thần kinh trung ương của thai nhi.

Do vậy, có thể thấy rằng, phụ nữ mang thai ăn nhiều cá sẽ có lợi cho sự phát triển của thai nhi.

Rong biển

Rong biển là một loại tảo sống trong biển.

Lá của nó rộng 20~50cm, dài 2~7m, có hình dạng thân dài giông cây rong nên gọi là rong biển.

Rong biển có giá trị dinh dưỡng cao, cứ 100g rong bien khô có chứa 8.2g protein, 0.1g mỡ, 57g đường, sản sinh ra 260kg calo. Rong biển còn chứa rất nhiều muối vô cơ và vitamin. Đặc biệt, hàm lượng iốt trong rong biển rất cao, chiếm 0 3~0.7%, cao gấp 1 triệu lần so với nước biển. Thường xuyên ăn thức ăn có chứa iốt có lợi trong việc chữa trị những h viêm mãn tính, iốt còn là nguyên liệu chính hợp thành tố tuyến giáp trạng,  thường xuyên ăn rong biển có thể bổ sung iốt cho cơ thể mẹ, đề phòng trẻ mắc chứng đần độn.

Cua

Thịt cua tươi ngon, dinh dưỡng phong phú, hàm lượng protein và mỡ trong cua cao, các chất như canxi, photpho, sắt, vitamin cũng tương đối nhiều. Cứ 500g cua có chứa 49.6g protein 9.3g mỡ, 27.2g hydro cacbon, 1.088mg photpho, 33 6mg sắt và vitamin A. Cua vừa là thức ăn bổ dưỡng, lại rất ngon miệng, dễ ăn, được nhiều ngưòi ưa thích. Nhưng cua lại không thích hợp đối với phụ nữ mang thai.

Có nên ăn cua khi mang thai không
Có nên ăn cua khi mang thai không

Cua không chỉ là thức ăn, mà còn là thuốc. Chúng ta thường gặp, có cua đá, cua biển, cua hồ, cua sông, cua ngòi,… Đa phần cua được dùng làm thức ăn, cua sông được sử dụng làm thuốc nhiều nhất. Theo ngựời xưa, cua có thể chữa bệnh gẫy xương, tụ huyết và khó đẻ, thúc thai ra mau, tụ huyết sau khi sinh của phụ nữ mang thai. 50g càng cua, đổ nước, rượu vàng sắc lên, cho thêm a giao, là được thuốc thúc đẻ mau.

Do vậy, phụ nữ mang thai cần nhớ dược tính của cua, không nên ăn cua. Những phụ nữ mang thai hay bị sảy thai càng cần cấm kị.

Trà xanh

Có nên uống trà xanh khi mang thai không
Có nên uống trà xanh khi mang thai không

Có rất nhiều loại trà: trà xanh, trà mạn, trà lipton… mỗi loại có công dụng riêng. Tuy nhiên đối với phụ nữ mang thai, uống trà nảo có lợi cho cơ thể thì cần tìm hiểu.

Theo điều tra nghiên cứu, trà xanh có chứa nhiều vitamin C, nguyên tố kẽm, đặc biệt, hàm lượng kẽm trong trà xanh không một loại trà nào sánh bằng. Đã có thí nghiệm chứng minh, trong trà lipton và cà phê hầu như không chứa kẽm.

Kẽm là một trong những nguyên tố vi lượng không thể thiếu đối với cơ thể người. Kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy, hàm lượng kẽm trong cơ thể phụ nữ mang thai có liên quan trực tiếp tối sự phát triển của thai nhi. Nếu cơ thể phụ nữ mang thai thiếu kẽm thì nhất định sẽ khiến thai nhi chậm phát triển và có di tật bẩm sinh, đặc biệt dị tật ở hệ thống thần kinh trung ương  như phần đầu, xương sống. Phụ nữ mang thai thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng tới kết cục và toàn bộ quá trình mang thai, như cơ thể phụ nữ mang thai bị nhiễm bệnh, xuất huyết nhiều khi đẻ, thai nhi bị chèn ép, ra sớm hoặc chết lưu, sảy thai, hay mắc các bệnh như hội chứng huyết áp cao thai nghén… đều liên quan tới phụ nữ mang thai thiếu kẽm. Theo điều tra quan sát, những phụ nữ mang thai thiếu kẽm trong máu ỏ thời kì đầu mang thai và tiếp tục duy trì tình trạng này thì tỉ lệ mắc các bệnh sản khoa và thai nhi bị dị tật đạt 74%; Những phụ nữ mang thai được bổ sung kẽm, kẽm cân bằng trong cơ thể thì tỉ lệ mắc bệnh là 37%.

Phụ nữ mang thai cần hấp thu nhiều kẽm từ bữa ăn hàng ngày. Ngoài những thức ăn mang tính thực vật như vừng, ngô, lúa mì, đậu tương, lạc,… những thức ăn mang tính động vật như thịt bò, lợn, dê, đầu cá,… chứa nhiều kẽm được hấp thụ từ 3 bữa ăn hàng ngày ra thì có thể bổ sung thêm kẽm bằng cách uống trà xanh, đây là một cách lí tưởng.

Tóm lại, phu nữ mang thai nên có thói quen uống trà xanh, điều này không chỉ có lợi cho sức khỏe của bà mẹ mà còn giúp ích cho sự phát triển của thai nhi. Bởi vậy, 30 phút hoặc 1 tiếng sau bữa cơm, tốt nhất phụ nữ mang thai nên uống một cốc trà xanh.

Ăn kiêng

Một số phụ nữ mang thai trẻ tuổi, sợ béo khi mang thai, ảnh hưởng tới vẻ đẹp của cơ thể sau khi sinh, hoặc sợ thai nhi quá mập, phải mổ vì không đẻ thường được, nên đã ăn uống kiêng khem, ăn ít đi. Cách làm này hiển nhiên vô cùng có hại.

Sau khi mang thai, sự trao đểi chất diễn ra ở phụ nữ mang thai vô cùng mãnh liệt, cùng với đó là hàng loạt các thay đổi của những cơ quan và bộ máy có liên quan tới việc mang thai, túi dinh dưỡng của thai nhi – tử cung, tăng thêm 670g, ngoài ra còn cần dự trữ lượng mỡ 4500g, thai nhi nặng 3000~4000g, cuống rốn và nước ối nặng 900~1800g. Trong suốt quá trình mang thai, phụ nữ mang thai sẽ nặng hơn với trước khi mang thai khoảng 11kg. Vậy thì hãy nghĩ phụ nữ mang thai sẽ cần hấp thu bao nhiêu chất dinh dưỡng.

Phụ nữ mang thai cần dinh dưỡng, thai nhi cũng cần hấp thu dinh dưỡng từ cơ thể mẹ, vậy có nên ăn kiêng trong tình hình này không?

Không đủ dinh dưỡng sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng cho thai nhi, như thiếu protein sẽ ảnh hưởng tới sự sinh sôi nảy nở của tế bào thần kinh, khiến trí lực kém; Thiếu muối vô cơ, nguyên tố như canxi, photpho sẽ ảnh hưỗng tới sự phát triển của xương, răng, dẫn tới bệnh mềm xương; Thiếu vitamin, khả năng miễn dịch giảm, ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể, thậm chí có thể dẫn tới phát triển không toàn diện; Thiếu mỡ, nguồn năng lượng bổ sung cho tim, gan giảm rõ rệt, sẽ không chịu được những cơn co bóp tử cung khi sinh, sau khi sinh còn có thể xuất hiện triệu chứng đường huyết thấp và khó thở. Thiếu dinh dưỡng càng tăng thêm nguy hại đối với cơ thể phụ nữ mang thai, thiếu protein thì không thể thích ứng với sự biến đổi của tử cung, cuống rốn, tổ chức tuyến sữa, đặc biệt trong thời kì mang thai, lượng protein huyết tương giảm thấp, gây phù thũng, khiến sự hợp thành kháng thể giảm, bởi vậy khả năng miễn dịch kém, dẫn tới mắc nhiều bệnh. Thiếu canxi sẽ khiến xương mềm, lưng chân đau mỏi. Thiếu sắt, dẫn tới thiếu máu, đầu óc chóng váng. Thiếu vitamin A dễ đẻ non, thai chết lưu, ngoài ra sức đề kháng của cơ thế giảm sẽ dễ mắc bệnh truyền nhiễm sau khi sinh. Thiếu vitamin B1 sẽ ảnh hưởng tới ham muốn ăn và bài tiết sữa, ngoài ra, làm nặng thêm bệnh phù chân, dễ dẫn tới bệnh tê phù- Thiếu vitamin c, sẽ làm nặng thêm bệnh táo bón, thiếu máu và dễ dẫn tới sảy thai, đẻ sớm; Chất xơ và nước cũng không thể thiếu.

Từ đó có thể thấy, phụ nữ mang thai không thể tùy ý kiêng khem, nếu không sẽ dẫn tới thiếu một loại chất dinh dưỡng nào đó hoặc mất sự cân bằng giữa các chất dinh dưỡng. 5 tháng sau khi mang thai, mỗi ngày ít nhất cần 2700~2800 kg calo, có thể hấp thu từ trong bữa ăn. Cần bảo đảm đủ lượng protein (mỗi ngày hấp thu 85g, hơn 15g so với người bình thường), lượng mỡ, đường, canxi, sắt, vitamin thích hợp, ăn nhiều thịt gà, trứng, cá, thịt nạc, gan lợn và các loại sữa, các loại đậu, lượng thực, rau tươi, hoa quả và đồ biển. Phải lên thực đơn một cách hợp lý, không được lựa chọn món ăn, ăn thiên về một loại, như vậy mới có thể thỏa mãn nhu cầu trong thời kì mang thai.

Lo sợ đẻ khó mà ăn kiêng khem là đỉều trái với khoa học. Bởi lẽ, đẻ khó, đẻ ngược chủ yếu là do phản ứng thai nhi không tốt, khi qua đường sinh sản không thể quay mình một cách có phản xạ. Đẻ khó không phải do thai nhi quá to, mà là thần kinh phát triển không tốt gây ra.

Gia vị có tính nóng

Những gia vị như hồi, quế, hạt tiêu, ớt, ngũ vị hương,… đều là những hương liệu có tính nóng, không thích hợp cho phụ nữ mang thai. Khi mang thai, nhiệt độ cơ thể của phụ nữ mang thai tăng lên tương ứng, ruột cũng khá khô. Trong khi đó những gia vị nói trên có tính kích thích, rất dễ làm tiêu hao lượng nước ở đường ruột, khiến sự bài tiết giáp thể ở dạ dày giảm, dẫn tới bệnh táo bón, phân khô cứng. Khi ra hiện tượng như vậy, phụ nữ mang thai phai mất sức đại tiện, như vậy sẽ gây áp lực cho vùng bụng, ép chặt thai nhi trong tử cung, khiến thai nhi cử động bất an, thai nhi phát triển dị hình, màng ối rách sớm, tự khắc gây ra những hậu quả không tốt như sảy thai, đẻ non.

Ăn vặt

Trong khi mang thai, dạ dày của phụ nữ mang thai vô cùng mẫn cảm với các kích thích nóng, lạnh. Ăn nhiều đồ lạnh có thể khiến huyết quản dạ dày đột nhiên thu nhỏ, sự bài tiết dịch dạ dày giảm, chức năng tiêu hóa giảm, từ đó dẫn tới chán ăn, tiêu hóa kém, đau bụng đi ngoài, thậm chí da dày co giật, xuất hiện triệu chứng đau bụng kịch kiệt.

Niêm mạc đường hô hấp như mũi, họng, khí quản của phụ nữ mang thai thường ứ máu và nước, nếu ăn, uống quá nhiều đồ lạnh, huyết quản đang ứ máu đột nhiên thu nhỏ lại, máu sẽ giảm bớt, khiến sức đề kháng giảm, lúc này khuẩn và vi rút gây bệnh đang “phục” sẵn trong họng, khí quản, khoang mũi, khoang miệng “thừa cơ” xông vào, gây bệnh đau họng, ho, đau đầu, nghiêm trọng còn dẫn tới viêm nhiễm đường hô hấp, viêm amidan.

Có người phát hiện, thai nhi trong bụng cũng rất mẫn cảm đối với những kích thích lạnh, khi phụ nữ mang thai uống nước lạnh hoặc ăn đồ lạnh, thai nhi cũng sẽ bứt rứt không yên trong tử cung, cử động liên tục. Do vậy, phụ nữ mang thai nhất định cần hạn chế ăn đồ lạnh.

Đường đỏ

Sau khi mang thai, người mẹ phải đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cho cơ thể mình và thai nhi, đồng thời phải bài tiết chất thay thế cho cả hai người, do vậy, dung lượng máu tăng cao (tăng khoảng 50% khi mang thai ở tháng thứ 7-8), mà lượng hồng cầu lại tăng chậm, chỉ khoảng 20%, bởi vậy hàm lượng huyết sắc tố giảm thấp, điều này gọi là thiếu máu sinh lý trong thời gian mang thai. Để ngăn chặn tình trạng thiếu máu, nhất thiết cần bổ sung những thức ăn chứa nhiều sắt. Ngoài ra, thai nhi trong cơ thể mẹ cũng cần tạo máu, sự phát triển các cơ bắp đòi hỏi tiêu hao một ít sắt, gan thai nhi cũng cần dự trữ một phần sắt, để chuẩn bị cho sau khi sinh. Để phụ nữ mang thai và thai nhi khỏe mạnh, ngoài việc tăng cường protein và lượng calo ra, phụ nữ mang thai còn cần bổ sung đủ muối vô cơ như canxi, photpho, sắt. Đường đỏ không chỉ có thể cung cấp lượng calo mà hàm lượng canxi, sắt trong nó cũng rất phong phú, do vậy phụ nữ mang thai ăn đường đỏ với lượng thích hợp rất có ích.

Lượng canxi trong đưàng đỏ cao gấp 3 lần so với đường cát; Lượng sắt trong đường đỏ cao gấp 2 lần so với đường cát, gấp 3 lần so với đường tinh thể, mà canxi và sắt đều là chất dinh dưỡng cần thiết cho phụ nữ mang thai. Đường đỏ còn chứa carotin, vitamin B1… mà trong đường trắng không có, những chất này cũng đều là chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với phụ nữ mang thai.

Ngoài ra, đường đỏ còn có tác dụng ích khí, tiêu hóa tốt khỏe tì ấm vị,… có lợi cho sức khỏe.

Dầu thực vật

Hàm lượng axit béo trong dầu thực vật phong phú, đặc biệt là những axit béo cần thiết (axit linoleic, axit Arachidonic). Những axit béo cần thiết này không thể hợp thành trong cơ thể người, phải được hấp thu từ trong thức ăn. Chúng có chủ yếu trong đậu tương, dầu vừng, dầu lạc, dầu hạt quì.

Axít béo cần thiết là chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với cơ thể. Sự hình thành và trao đổi chất của tế bào da trong cơ thể không thể thiếu những axit béo này. Khi thiếu chúng sẽ khiến da khô ráp, dầy lên, lông mọc xơ xác. Axít ần thiết là nguyên ũệu hợp thành mõ photpho và tố tiền bệt tuyết nỏ còn c6 thể làm giảm lượng cholesteron trong máu, giảm hiện tượng xơ cứng động mạch. Trong thời gian mang thai nếu cơ thể mẹ thiếu axit béo cần thiết sẽ khiến trẻ thiếu cân.

Các nhà khoa học đã từng tiến hành điều tra đốì với 100 phụ nữ mang thai (56 người ở vùng đói nghèo, 44 người ở vùng sung túc), phát hiện thể trọng trẻ được sinh ra ở vùng đói nghèo đa phần thấp hơn 3000g, thậm chí có 9 trường hợp thấp hơn 2500g, những bà mẹ ở vùng này trong thời gian mang thai chỉ hấp thu 6.6g axit béo cần thiết mỗi ngày; Trong khi đó, những bà mẹ ở vùng sung túc, mỗi ngày hấp thu 12g axit béo, kết quả là, không có trường hợp nào trẻ được sinh ra thiếu cân.

Chuyên viên nghiên cứu Nhật Bản cho rằng, bổ sung axit béo cho cơ thể phụ nữ mang thai thì có thể đề phòng trẻ sinh ra thiếu cân, họ đã đo được nồng độ các loại axit béo trong máu cơ thể và trong máu cuống rôn của 70 phụ nữ mang thai, kết quả phát hiện thấy, nồng độ trong máu cuống rốn thấp hơn hẳn so với trong máu cơ thể. DHA và AA giữa mẹ và bé rõ ràng có liên quan tới HF, cho thây nồng độ axit béo trong máu cuông rốn quyết định ở nồng độ trong máu cơ thể mẹ.

Nhìn chung, mỗi ngày phụ nữ mang thai nên hấp thu 10~12g axit béo cần thiết. Axit béo sẽ qua cuống rốn tới thai nhi, vừa cấu thành màng tế bào, vừa giúp não thai nhi phát triển. Đồng thời, axit béo cần thiết còn có thể được chuyển hóa thành tố tiền liệt tuyến, khiến máu lưu thông trong cuống rốn, cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của thai nhi.

Mang thai không nên ăn nhiều muối

Không nên ăn mặn khi mang thai
Không nên ăn mặn khi mang thai

Có người cho rằng, trong thời kì mang thai, đặc biệt trong mấy tháng cuối, cấm không được ăn muối. Kì thực một chút muối không vấn đề gì, nếu có lời khuyên của bác sĩ hoặc gặp những tình trạng dưới đây thì mới không được ăn muối hoặc ăn ít muối:

  1. Khi mắc một số bệnh nào đó liên quan tới thai nghén (bệnh tim, thận), nhất thiết cấm ăn muối ngay từ lúc bắt đầu mang thai.
  2. Thể trọng tăng quá nhanh, đặc biệt, kèm theo đó là hiện tượng phù thũng, huyết áp tăng, người mắc hội chứng huyết áp cao thai nghén cũng không được ăn muối.

Cấm không ăn muối nghĩa là mỗi ngày không được ăn quá 1.5~2.0g natri clorua. Mỗi ngày hấp thu 8~15g natri clorua vào cơ thể, 1/3 trong số đó là do lương thực chính cung cấp, 1/3 là do muối ăn, 1/3 còn lại là từ thức ăn khác. Tất cả những thức ăn không có vị mặn có thể khiến phụ nữ mang thai dần dần quen với việc không ăn muối. Như nước  cà chua tươi, nước chanh ép, dấm, mù tạt không muối, rau thơm, tỏi, hành, hành tây, rau hẹ, đinh hương, đậu phụ,…

Những lưu ý ăn uống trong giai đoạn cuối thai kỳ

Giai đoạn cuối thai kì, thai nhi vẫn tiếp tục phát triển. Do vậy, phụ nữ mang thai vẫn phải đảm bảo lượng dinh dưỡng cần thiết. Chuyên gia cho rằng,ở giai đoạn cuối thai kì, phụ nữ mang thai nên đặc biệt chú ý 4 điểm sau:

  1. Chọn biện pháp ăn ít, ăn thành nhiều bữa. Càng gần ngày sinh thì càng cần hấp thu nhiều chất sắt hơn. Song lúc này dạ dày chịu áp lực của tử cung, một bữa ăn quá nhiều sẽ cảm thấy bụng căng tức, hơn nữa dễ bị táo bón hoặc đi ngoài. Bởi vậy, nên ăn thành nhiều bữa, một ngày ăn 4-5 bữa là thích hợp. Trọng điểm tập trung vào bữa trưa, thức ăn chính có thể giảm bớt, tăng cường thức ăn phụ giàu dinh dưỡng, nên ăn nhiều rau tươi, sản phẩm chế biến từ sữa, để đề phòng táo bón.
  2. Nên ăn nhạt một chút: Thức ăn cho phụ nữ mang thai ở kì cuối thai nghén nên nhạt một chút, giảm bớt muối và nước mắm, không nên ăn dưa muối, tương. Nếu cảm thấy không hợp khẩu vị, ăn không ngon miệng thì có thể cho một chút đường hoặc dấm vào thức ăn.
  3. Lên thực đơn hợp lý tùy theo tình hình thực tế của phụ nữ mang thai: Khi khám thai, phụ nữ mang thai có thể xin sự chỉ dẫn của bác sĩ, nắm rõ tình hình phát triển của thai (có tốt không, quá to hay quá nhỏ), đồng thời kết hợp với sức khỏe, mức độ công việc của bản thân, cũng như tình hình kinh tế gia đỉnh để lên thực đơn hợp lý.
  4. Giai đoạn cuối thai nghén dễ xuất hiện hội chứng huyết áp cao thai nghén và những bệnh khác có liên quan tới thai nghén. Cần điều chỉnh thức ăn dựa theo tính chất và mức độ của bệnh tình. Ví như, huyết áp tăng cao, phù thũng nặng, tiểu anbumin,… lập tức hạn chế hấp thu protein và muối. Lên “thực đơn ăn uống kết hợp trị bệnh” theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì

Hoa quả giống như rau tươi, là thực phẩm không thể thiếu đối với sức khỏe con người. Nguồn hoa quả đa dạng phong phú, nhiều chủng loại. Hoa quả tươi ngon, dễ ăn vừa mang lại giá trị dinh dưỡng, lại có ích trong việc kích thích ham muốn ăn, giúp tiêu hóa tốt, đặc biệt có những loại quả còn có tác dụng chữa bệnh. Tuy nhiên, nếu phụ nữ mang thai không hiểu rõ đặc điểm của từng loại quả và giai đoạn thai nào nên ăn quả gì, ăn nhiều, ăn bừa, thì không những không có ích mà còn có hại cho sức khỏe, ảnh hưởng không tốt tới thai nhi.

Táo

Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì - Táo
Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì – Táo

Mùi vị, màu sắc của táo tươi ngon, cùi giòn, ngọt, là một trong những loại quả được yêu thích nhất. Do sản lượng táo cao, được trồng rộng khắp nên nó được xếp vào 4 loại quả lớn thế giới cùng với nho, quýt và chuối.

Táo giàu dinh dưỡng, trong 100g cùi táo có chứa 15g đường, 0.2g protein, 5mg vitamin C, 9mg photpho, 11mg canxi, 100mg kali, 14mg natri. Ngoài ra,trong táo còn chứa carotin, vitamin Bu axit của táo… Táo có vị chua, tính bình, có công dụng bổ phôi tiêu đòm, khai vị hòa tì, rất thích hợp cho phụ nữ mang thai. Táo còn có thể làm giảm đau bụng nếu phụ nữ mang thai bị đi ngoài, có thể chữa trị theo cách sau: Pha 25g bột táo khô với nước ấm, uống trước khi ăn, mỗi ngày 2-3 lần. Táo còn có thể chữa chứng tiêu hóa kém. Mỗi ngày ăn một quả táo sau bữa cơm, rất tốt cho tiêu hóa. Gầu đây, các nhà khoa học nước ngoài còn phát hiện thấy táo chứa nhiều kẽm. Kẽm không chỉ có ích cho sự phát triển cơ bắp mà còn có thể làm giảm bệnh cảm lạnh. Một nghiên cứu khác của một giáo sư người Nhật Bản cho biết, mỗi ngày ăn 3 quả táo thì có thể duy trì huyết áp bình thường. Bởi vậy thường xuyên ăn táo với lượng thích hợp có tác dụng nhất định trong việc phòng và chống bệnh huyết áp cao thai nghén.

Tuy nhiên người bị táo bón và mắc bệnh viêm loét dạ dày, ruột non thì không nên ăn nhiều táo.

Lê xưa này được mệnh danh là “bậc thầy của trăm quả”. Lê có nhiều loại phong phú, sản lượng chỉ xếp sau táo. Theo phân tích khoa học, hàm lượng đường trong lê đạt 8~20%, chủ yêu là đường gluco và đường mía; Hàm lượng axit hữu cơ như axit táo và axit chanh; Vitamin B, vitamin C; canxi, phopho, sắt cũng tương đối phong phú.

Hoa, lá, vỏ cây của lê cũng đều có giá trị chữa bệnh nhất định. Đông y cho rằng, lê với vị chua ngọt có tác dụng mát ruột bổ phổi, lợi tiểu, thanh nhiệt giải độc, mát họng tiêu đờm, giảm ho. Chữa được các bệnh như: nóng phổi ho đờm nhiều, họng khô, mắt đỏ, mất giọng, đại tiểu tiện khó khăn,… Lấy một quả lê to, bổ đôi, bỏ hạt, cho 5g bối mẫu sau đó đậy lại, dùng que xuyên chắc, cho vào trong bát hấp cách thủy 1~2 tiếng, uống canh, ăn lê, mỗi ngày một quả, có thể chữa bệnh cảm lạnh, ho, viêm phế quản cấp tính.

Lê tính hàn, những người ho lạnh, đi ngoài phân lỏng  không nên ăn.

Chuối tiêu

Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì - Chuối tiêu

Chuối tiêu có mùi thơm ngon được nhiều người yêu thích, là loại quả bổ dưỡng. Chuôi tiêu giàu dinh dưỡng (cứ 100g chuối tiêu có chứa 1.2g protein, 20g đường, 0.6g mỡ, 0.9g chất xơ, 9mg canxi, 3mg photpho, 0.6mg sắt, 0.25g carotin), hơn nữa còn có công dụng chữa bệnh, vị ngọt, tính hàn của nó có tác dụng thanh nhiệt bổ phổi, nhuận tràng, giảm huyết áp, thích hợp với những người huyết áp cao, đi ngoài phân khô. Râu ngô, vỏ dưa hấu sắc với chuối tiêu là biện pháp chữa trị có hiệu quả đối với bệnh huyết áp cao, mỗi ngày lấy 60g râu ngô, 60g vỏ dưa hấu, 3 quả chuối bóc vỏ, cho 4 bát nước vào sắc thành nửa bát, cho thêm đường phèn vào, chia làm đôi, uống hết trong ngày. Lấy 1~2 quả chuối tiêu, nấu với đường phèn, mỗi ngày uống 1-2 lần, uống nhiều ngày liền, cố thể chữa bệnh ho mãn tính.

Do chuối tiêu có tính mát nên những người đau bụng đi ngoài, phân lỏng không nên ăn.

Cam quýt

Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì - Cam quýt
Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì – Cam quýt

Cam quýt là chỉ các loại cam, quýt, bưởi. Chúng có đặc điểm: thơm ngọt, dinh dưỡng phong phú. Đặc biệt giàu vitamin C (100g cam quýt có chứa 34~54mg vitamin C), có thể bổ sung vitamin C cho cơ thể. Vitamin C có ích cho sự phát triển xương, răng của thai nhi, có tác dụng thúc đẩy hệ thống tạo máu và sức đề kháng của cơ thể, phụ nữ mang thai mỗi ngày nên hấp thu khoảng 80~100mg vitamin C.

Cam quýt cũng có tác dụng chữa bệnh, vỏ, lá, hạt, cùi, múi, đường gân của cam quýt đều có công dụng. Nước cam quýt có tác dụng thông ruột lợi khí, bổ phổi nở ngực, thích hợp cho phụ nữ mang thai – những người đầy bụng, hay nôn, ăn ít. Vỏ quýt hơi đắng, tính ôn, có tác dụng thông khí bổ tì, giảm ho tiêu đờm, thích hợp cho những người tiêu hóa kém, hay nôn, đầy bụng. Dù là sản phẩm tươi hay khô đều có thể sử dụng. Ở đây xin được giới thiệu hai đơn thuốc:

  • Chữa cảm lạnh ho: vỏ quýt, gừng, lá tía tô mỗi loại 10g, cho thêm ít đường đỏ, sắc lên uống
  • Chữa bệnh dạ dày lạnh hay nôn: vỏ quýt, gừng, ớt mỗi loại 6g, sắc lên uống.

Cam quýt đều có vị chua, song tính chất khác nhau, cam tính mát, quýt tính ôn. Tùy theo tính chất và bệnh tình của bản thân để chọn cam hay quýt thích hợp với mình. Nhìn chung, những phụ nữ mang thai nóng phổi, nóng dạ dày, táo bón nên ăn cam; còn những phụ nữ mang thai phôi lạnh, dạ dày lạnh thì nên ăn quýt. Ngoài ra, khi ăn quả tươi, nên ăn cả múi quýt lẫn xơ quýt, xơ quýt có công dụng thông khí tiêu đờm, hơn nữa giàu vitamin D.

Nho

Phụ nữ mang thai nên ăn hoa quả gì - Nho

Nho có chứa hàm lượng đường gluco, glucoda phong phú, khiến cơ thể dễ hấp thu; Đồng thời còn chứa nhiều muối vô cơ như kali, canxi, photpho, sắt và các loại vitamin.

Các nhà y học cổ đại cho rằng nho vị chua ngọt, tính bình có công dụng tráng dương bổ huyết, thông tiểu, xương cốt rắn chắc, là một loại quả bổ dưỡng, thích hợp cho phụ nữ mang thai thiếu máu, những người bị bệnh phù thũng, ho lâu ngày, tim hồi hộp, ra mồ hôi trộm, tê thấp…

Nho tươi ép lấy nước, gừng rửa sạch, ép lấy nước, đun nước sôi, rồi đổ một cốc trà xanh đặc vào, đổ nước nho ép, nước gừng ép (mỗi  loại 50g), mật ong vừa đủ, uống lúc còn nóng có thể chữa bệnh kiết lị a-míp.

Ngoài ra nho còn có thể chữa bệnh nhiễm hệ thống tiết niệu cấp tính. Biện pháp là: Lấy nước nho ép, nước ngó sen ép, nước sinh địa (vị thuốc Đông y) ép, mỗi loại 300ml, 250g mật ong, cho vào đun sôi, mỗi ngày uống 120ml trước bữa ăn.

Người bị cảm lạnh không nên ăn nho.

Dưa hấu

Dưa hấu chủ yếu do nước cấu thành, hàm lượng nước trong dưa hấu chiếm hơn 94%, ngoài ra còn chứa đường gluco, vitamin A, vitamin B, vitamin C, vitamin D phong phú, có giá trị dinh dưỡng cao. Theo hóa nghiệm cứ 100g dưa hấu có chưa 94.1g nước, 1.2g protein, 4.2g đường, 22 Kcalo, 0.3g chất xơ, 6mg canxi, 10mg photpho, 0.2mg sắt, 0.17g carotin, 0.02mg vitamin B1, 0.02mg B2, 3g vitamin C.

Dưa hấu có tác dụng thanh nhiệt giải nóng, giảm khát xua tan mệt mỏi, thông tiểu, còn có thể chữa các bệnh nhưkhô họng, rát họng, ho ra máu, lở mồm… có mệnh danh là “cácnh bạch hổ thiên nhiên”

Vào mùa hè nóng nực, một số phụ nữ mang thai không ăn nổi cơm, lúc này, ăn một chút dưa hấu thì có thể bổ sung nước và dinh dưỡng, lại còn có thể thông ruột, tốt cho tiêu hóa.

Theo người xưa, dưa hấu có vị ngọt dịu, tính hàn, có công dụng lợi tiểu, thanh nhiệt, giảm khát. Khoa học ngày nay còn cho thấy dưa hấu có tác dụng làm giảm huyết áp, thích hợp cho những người bị huyết áp cao, phù thũng. Nếu không vào mùa dưa hấu thì có thể dùng vỏ dưa hấu phơi khô thay thế, đun lên uống thay trà, cũng rất có hiệu quả.

Mặc dù dưa hấu có vị ngọt, nhưng lại có tính hàn, không nên ăn nhiều, những người tì vị lạnh càng nên thận trọng.

Nhãn

Trong nhãn có chứa các chất như đường gluco, vitamin, đường mía, dinh dưỡng phong phú, có tác dụng bổ tì, sung huyết, an thần, có thể dùng để chữa bệnh thiếu máu, mất ngủ, hay quên, thần kinh suy yếu, cơ thể suy nhược sau khi sinh hoặc sau khi bị bệnh. Tuy nhiên, những loại quả có vị ngọt, tính ôn, đều không thích hợp đối với những người âm suy, nóng trong hoặc mắc bệnh mang tính nóng.

Sau khi mang thai, để thích ứng với sự phát triển của thai nhi và để chuẩn bị cho việc sinh đẻ, cơ thể phụ nữ mang thai diễn ra hàng loạt những thay đổi về sinh lý. Trong đó, hệ thống sinh sản biến đổi rõ rệt nhất, do huyết quản của cơ tử cung nhiều lên, nên lượng máu sau khi mang thai tăng rõ rệt, huyết quản ở các bộ phận như cổ tử cung, thành âm đạo, ống dẫn trứng đều ở vào trạng thái căng phồng và chứa ứ máu. Lượng máu ở hệ thống tuần hoàn máu cũng tăng rõ rệt, làm tăng thêm gánh nặng cho tim, tim đập nhanh hơn. Chức năng bài tiết cũng tăng, ALD được bài tiết ra nhiều hơn, dễ dẫn tới phù thũng và huyết áp cao; Tuyến yên ở não, tuyến giáp trạng và bàng tuyến giáp trạng xuất hiện hiện tưọng phình to và ớ máu, chức năng tăng mạnh. Ở hệ thống tiêu hóa, vị toan bài tiết ít, chức năng dạ dày giảm, sẽ xuất hiện hiện tượng chán ăn, thích đồ ăn chua, dạ dày trương phồng phân khô. Xét từ góc độ y học, đối với âm huyết thiên hư âm suy trong lại nóng, nếu ăn nhãn bừa bãi, sẽ gây ra hoặc làm nặng thêm hiện tượng nôn mửa thai nghén, thậm chí còn dẫn tới sảy thai.

Cà rốt

Bệnh do thiếu vitamin A là một trong những loại bệnh thường gặp nhất. Theo điều tra, hàm lượng vitamin A trong máu của cư dân thị trấn, thành thị, đặc biệt là trẻ em và phu nữ mang thai thấp hơn 100-300 đơn vị quốc tế/100 ml so với tiêu chuẩn bình thường. Nếu phụ nữ mang thai thiếu vitamin A sẽ dẫn tới những dị tật bẩm sinh ở não, mắt, tai, đường tiết niệu, đường sinh sản, hệ thống tâm huyết quản,… của thai nhi, thậm chí còn khiến thai nhi tử vong. Làm thí nghiệm với chuột mẹ, cho chuột mẹ ăn thiếu vitamin A, có thể gây ra dị hình ở chuột con như không có mắt, mắt nhỏ, thận, buồng trứng và tinh hoàn đều khiếm khuyết. Làm thí nghiệm đối với khỉ, cho khỉ mẹ ăn thức ăn có hàm lượng vitamin A thấp, có thể khiến khỉ con bị bệnh mắt khô.

Do vậy, các nhà khoa học cho rằng, bổ sung carotin trong bữa ăn hàng ngày vô cùng quan trọng đối với phụ nữ mang thai.

Cà rổt chứa một loại chất carotin- vô cùng phong phú cứ 100g cà rối có khoảng 1.45mg carotin. Tầm quan trọng tạo nên chất dinh dưỡng của loại chất này có liên quanmật thiết tới chức năng tạo thành tiền thể vitamin A của chất này. Carotin có 4 công dụng chủ yếu sau:

  • Có tác dụng chuyển hóa tiền thể vitamin A trong cơ thể thành vitamin A (Duy trì chức năng nhìn bóng tối bảo vệ sức khỏe của các tổ chức thượng bì, thúc đẩy sinh trưởng phát triển.
  • Là chất chống oxi hóa; Nâng cao chức năng miễn dịch ỏ cơ thể;
  • Chống ung thư, nếu cơ thể thiếu carotin thì có thể dẫn tới bệnh thiếu vitamin.

Những loại thực phẩm nên kiêng khi mang thai?

Không nên ăn nhiều đồ chua khi mang thai

Thông thường phụ nữ thường buồn nôn, nôn mửa trong lần đầu thai nghén, mà kinh nghiệm dân gian lâu nay của chúng ta là “chữa trị” bằng cách ăn thực phẩm có vị chua, để làm giảm cơn buồn nôn, thậm chí có một số người còn uống thuốc chống nôn.

Kì thực, ăn nhiều đồ chua khi mang thai là không tốt. Nghiên cứu gần đây cho thấy, thực phẩm chua và thuốc là một trong những nhân tố gây dị tật cho thai nhi. Nghiên cứu cho rằng, khoảng nửa tháng đầu tiên mang thai, không nên ăn hoặc ăn ít thức ăn chua, cũng như không nên uống thuốc có vị chua, như vitamin c, aspirin.

Vì sao phải ăn ít sơn trà khi mang thai?

Sơn trà còn được gọi là sơn lý hồng, có giá trị dinh dưỡng rất cao. Theo ước tính, trong 100g cùi sơn trà có chứa 89mg vitamin c, 0.82mg carotin, 85mg canxi, 2.1mg sắt, 9.7% protein, 9.2% chất béo, 22% đưòng, và một số chất khác.

Do đặc điểm chua chua ngọt ngọt dễ ăn, dễ tiêu hóa, nên rất nhiều người thích ăn sơn trà, đặc biệt là phụ nữ khi mang thai bị nghén, buồn nôn, nôn, chán ăn,… rất thích ăn những loại quả chua ngọt thế này. Song, nhất định cần chú ý không nên ăn quá nhiều sơn trà hoặc những sản phẩm chế biến từ sơn trà.

Hiện nay đã có nghiên cứu cho rằng sơn trà có tác dụng gây hưng phấn tử cung của phụ nữ khi mang thai, có thể thúc đẩy tử cung co bóp, nếu phụ nữ mang thai ăn quá nhiều sơn trà  có thể dẫn tới kích thích sự co bóp của tử cung, gây sảy thai. Đặc biệt những phụ nữ đã từng bị sảy thai hoặc có dấu hiệu sảy thai càng không nên ăn thực phẩm này.

Có nên ăn nhân sâm khi mang thai không?

Thực phẩm nên kiêng khi mang thai- không nên ăn nhân sâm

Đông y cho rằng, kinh nguyệt ngừng, máu trong tạng phủ kinh lạc của người phụ nữ đều tập trung vào việc dưỡng thai, cơ thể mẹ ở vào trạng thái âm huyết suy thoái, dương khí hưng thịnh, y học cổ truyền từng khái quát sự biến đổi sinh lý chủ yếu của phụ nữ mang thai thành “dương dư thừa, âm thiếu”, “khí dư thừa, máu không đủ”

Có phụ nữ cho rằng, sau khi mang thai, ăn sản phẩm bổ dưỡng sẽ có lợi cho sự phát triển của thai nhi, nên đã mua nhân sâm về ăn, thực tế, nhân sâm không những không có lợi mà còn gây hại cho phụ nữ mang thai và thai nhi.

Nhân sâm là sản phẩm bổ sung nguyên khí, sau khi mang thai, uống lượng lớn hoặc uống trong thời gian dài sẽ khiến khí hưng thịnh, âm suy, âm suy lại khiến hỏa thịnh, tức là “Khí dư thừa, chính là hỏa”. Một bác sĩ Mỹ từng tiến hành quan sát đối vối 100 người uống nhân sâm hơn 1 tháng phát hiện thấy, đa phần xuất hiện những phản ứng không tốt như tâm tư kích động, bồn chồn mất ngủ, họng đau rát, huyết áp tăng,… Ông đã gọi hiện tượng này là “hội chứng lạm dụng nhân sâm”, cho rằng nguyên nhân xảy ra hiện tượng này có liên quan tới thần kinh, chức năng bài tiết bị rối loan. Cũng đã có nghiên cứu kết luận: Sau khi uống 100ml rượu chứa 3% nhân sâm, cơ thể người sẽ hưng phấn và bất an ở mức độ nhẹ; Sau khi uống 200 ml, có thể bị trúng độc, như toàn thân mẩn ngứa, choáng váng, đau đầu, nhiệt độ cơ thể tăng và xuất huyết. Ngoài ra, uống nhân sâm còn gây tác dụng nhịn tiểu, dễ dẫn tới phù thũng.

Có thể thấy, phụ nữ mang thai lạm dụng nhân sâm, có thể gây ra hoặc làm nặng thêm hiện tượng “nghén”, phù thũng và huyết áp cao, cũng có thể khiến âm đạo chảy máu, dẫn tối sảy thai. Nhìn từ góc độ thai nhi, sức chịu đựng của thai nhi đối với nhân sâm thấp, uống quá liều lượng sẽ gây nguy hại tới tính mạng thai nhi.

Vì sao không nên ăn nhiều đồ hộp khi mang thai?

Thực phẩm nên kiêng khi mang thai- không nên ăn nhiều đồ hộp
Thực phẩm nên kiêng khi mang thai- không nên ăn nhiều đồ hộp

Có không ít phụ nữ khi mới mang thai, do bị “nghén” nên thường thích ăn hoa quả chua chua ngọt ngọt. Gặp lúc trái mùa, hoa quả tươi trên thị trường khan hiếm, đành phải dùng hoa quả đóng hộp. Tuy nhiên, hoa quả đóng hộp thường chứa chất phụ gia. Rất nhiều tài liệu chứng minh, phụ nữ mang thai ăn nhiều đồ hộp có chứa chất phụ gia trong kì đầu thai nghén có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi.

Trong quá trình sản xuất, để tạo mùi vị hấp dẫn, bắt mắt và bảo quản được lâu ngày, nhà sản xuất thường cho thêm một lượng chất phụ gia nhất định vào thực phẩm đóng hộp, như những chất tạo mùi vị tươi ngon có sắc tố, vị thơm, mì chính, đường hóa học, axit thực dụng; Những chất có thể phòng chống thối rữa, chống oxi hóa; Những chất có thể nâng cao chất lượng thực phẩm như chất tạo xốp, chất làm trắng, chất làm kết tủa…

Đường tinh là loại đường nhân tạo duy nhất được phép sử dụng. Có người đã làm thí nghiệm với động vật, cho một con chuột mang thai ăn đường hóa học từ lúc mang bầu tới lúc sinh, tỉ lệ phát bệnh u bàng quang cao hơn hẳn so với những con chuột không ăn đường. Có thí nghiệm còn chứng minh, đường hóa học có thể thúc đẩy sự phát triển của một số bệnh ung thư nào đó xảy ra nhanh hơn. Do vậy, Tổ chức y tế thế giới quy định, ở người cứ mỗi kg trọng lượng được phép hấp thu 0~2.5g đường hóa học mỗi ngày. Ngoài ra, không được sử dụng đường hóa học khi chế biến thực phẩm dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Đồ ăn được chế biến với hắc ín là nguyên liệu tạo sắc tố chính cũng gây hại cho cơ thể người.

Chất phụ gia trong thực phẩm không phải là chất dinh dưỡng, ngoài những chất bắt nguồn từ động thực vật hoặc chất tăng cường ra thì đa phần không phải là thành phần thực phẩm tự nhiên, có khả năng dẫn tới mẫn cảm, trúng độc tích tụ chất độc. Mặc dù ảnh hưởng không lớn tới phạm vi tiêu chuẩn bình thường của con người, nhưng lại có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sự phát triển của phôi thai trong bụng mẹ.

Chúng ta biết, giai đoạn đầu mang thai, đặc biệt 8 tuần đầu tiên, là giai đoạn thai nhi non nớt nhất trong bụng mẹ, bởi vì, lúc này trứng thụ tinh đang ở vào giai đoạn quan trọng phân hóa và tổ hợp tế bào, các hệ thống còn chưa hình thành. Ví như, hệ thống thần kinh phát triển trong khoảng 15-25 ngày sau khi mang thai, tim phát triển trong khoảng  20-40 ngày sau khi mang thai, cơ thể phát triển trong khoảng 24-26 ngày sau khi mang thai,… Bởi vậy, lúc này nhân tố kích thích bên ngoài thường ảnh hưởng tới các khâu quan trọng như phân hóa, sinh sôi nảy nở; gây ảnh hưỏng xấu tới sự phát triển và sinh trưởng của thai nhi, thậm chí gây ra thai dị tật.

Ngoài ra, sau khi mang thai, các hệ thống trong cơ thể phụ nữ xảy ra hàng loạt biến đổi sinh lý. Như, sau khi hệ thống men trong cơ thể thay đổi sẽ kéo theo hàng loạt những biến đổi nhất định đối với các quá trình như trao đổi chất hóa học, oxi hóa, hoàn nguyên, thủy phân,… khiến một số chất độc không phân giải hết đã tích tụ lại trong cơ thể, sau đó phát tác lên thai nhi.

Hơn nữa, vào kì đầu mang thai, thai nhi đang trong giai đoạn hình thành, các cơ quan vẫn chưa kiện toàn, chưa có khả năng xử lý và giải độc đối với những chất độc.

Do vậy, dù hàm lượng chất, phụ gia trong thực phẩm đóng hộp không nhiều, song nếu ăn thường xuyên cũng có thể dẫn tới trúng độc dần dần, thậm chí gây ra sảy thai hoặc thai dị tật.

Vậy nên, khuyến cáo phụ nữ mang thai, tốt nhất không nên ăn thực phẩm đóng hộp trong giai đoạn đầu mang thai.

Vì sao không nên uống rượu khi mang thai?

Thực phẩm nên kiêng khi mang thai - Phụ nữ mang thai không nên uống rượu
Thực phẩm nên kiêng khi mang thai – Phụ nữ mang thai không nên uống rượu

Không ít người coi uống rượu là một cách hưởng thụ cuộc sống. Những lúc muộn phiền, uống rượu; Những lúc hưng phấn, uống rượu. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai uống rượu sẽ làm tổn hại tới thai nhi.

Phụ nữ mang thai uống rượu có thể gây ra hội chứng tinh rượu ở thai nhi. Khi phụ nữ mang thai uống một lượng rượu tương đương với khoảng 30ml tinh rượu mỗi ngày (khoảng 60ml rượu trắng 50 độ) thì sẽ có 20.4% thai nhi xuất hiện hội chứng tinh rượu; Nếu uống hơn 90ml, thì chắc chắn sẽ tạo ra những thai nhi thế này: Chức năng hệ thống thần kinh khác thường, trí lực phát triển chậm, thậm chí đầu nhỏ dị dạng, tích nước ở não, vỏ não không phát triển vẹn toàn, mặt dị dạng, cằm lồi, mắt nhỏ, lác, mũi to, sống mũi ngắn, lô mũi vểnh lên trời, tai to,… Ngoài ra, còn có thể gây dị tật ở tim và tứ chi. Nhìn chung, càng ở giai đoạn đầu mang thai thì tác hại gây dị tật của tinh rượu càng rõ rệt, 1~2 tháng đầu mang thai, chỉ cần phụ nữ mang uống một ít rượu cũng sẽ ảnh hưỏng tới sự phảt triển của thai nhi và trí lực của trẻ sau khi sinh. Theo thống kê, trong số 2500 đứa trẻ thần kinh phát triển không đầy đủ thì có 928 đứa trẻ có bố hoặc mẹ là những con sâu rượu, tỉ lệ chiếm hơn 1/3.

Các chuyên gia cho rằng bia, rượu nho và những loại rượu mạnh đều có ảnh hưởng nguy hại tới thai nhi với mức độ khác nhau, dù là rượu nếp cũng như vậy. Rất nhiều địa phương có thói quen cho phụ nữ mang thai ăn rượu nếp, cho rằng rượu nếp có thể “bổ mẹ, tráng con”. Kì thực, thành phần chủ yếu của rượu nếp cũng là tinh rượu, cũng có tác dụng giống các loại rượu khác.

Phụ nữ mang thai uống rượu, còn có thể dẫn tới sảy thai. Theo báo cáo của Mỹ, phụ nữ mang thai uống rượu hàng ngày hoặc nhiều hơn 2 lần mỗi tuần thì nguy cơ sảy thai ở giai đoạn giữa thai kì cao gấp đôi so với phụ nữ mang thai không uống rượu, nếu mỗi ngày uống 3 lần thì con số này sẽ là gấp 3.8 lần.

Nghiên cứu phát hiện, sau 1 phút phụ nữ mang thai uống rượu, tinh rượu sẽ vào máu của thai nhi, nhưng khoảng 3,4 tiếng sau, tinh rượu trong máu phụ nữ mang thai có thể biến mất, song nồng độ tinh rượu trong nước vối vẫn rất cao, như vậy, trong quá trình uống nước, thai nhi có thể sẽ hấp thu tinh rượu, khiến nồng độ tinh rượu trong máu thai nhi khó mà giảm xuống.

Tương tự như vậy, người bố uống rượu cũng sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho thai nhi. Có nghiên cứu cho thấy, 1 tháng trước khi người vợ mang thai, nếu người chồng mỗi ngày uống một lượng rượu tương đương với 30 ml tinh rượu hoặc uống rượu 10 lần, mỗi lần hơn 50ml trong vòng 1 tháng hoặc từng uống một lần 125ml rượu trong một tháng thì thể trọng trẻ sinh ra sẽ thấp hơn 236g so với trẻ bình thường. Trẻ sinh thiếu cân sẽ khó nuôi, nhiều bệnh, chậm phát triển kém thông minh.

Tóm lại, phụ nữ mang thai không thể uống rượu. Điền đáng nói là, không tồn tại “giai đoạn an toàn” và “lượng an toàn” đối với uống rượu trong khi mang thai, do vậy, dù thế nào cả vợ và chồng đều không thể uống rượu.

Vì sao không nên uống nhiều coca khi mang thai?

Coca cola – đồ uống thịnh hành nổi tiếng thê giới là một trong những đồ uống được ưa chuộng mang lại cảm giác kích thích, trong đó bao gồm đường,  axit, cafein, cacbondioxit..

Nhìn chung, đồ uống chứa cafein, sẽ lưu lại trong dạ dày tương đối lâu, sau khi uống cafein (dù số lượng bao nhiêu), trong 15 phút, máu sẽ xuất hiện phản ứng,

khoảng 1 tiếng đồng hồ, nồng độ của nó sẽ đạt đỉnh cao, sau 24 giờ, phản ứng trong máu mới khôi phục lại bình thường. Nếu uống quá nhiều sẽ gây hại cho cơ thể. Một lon coca cola 340g chứa 50-80mg cafein. Uống hơn 1g cafein trong một lần thì có thể gây hưng phấn hệ thống thần kinh trung ương, hô hấp nhanh, hoa mắt, mất ngủ, ù tai,… Dù uống ít hơn 1g cũng gây kích thích niêm mạc dạ dày, dẫn tới những triệu chứng như buồn nôn, chóng mặt, bồn chồn, đau tim,…

Nếu phụ nữ mang thai uống quá nhiều coca cola, cafein sẽ nhanh chóng phát tác lên thai nhi thông quá cuống rốn, gây nguy hại cho thai nhi. Những năm đầu thập niên 60 của thế kỉ trước, có người đã làm thí nghiệm với chuột. Người ta đã tiêm một lượng cafein tương đương với 12~14 cốc cà phê vào cơ thể chuột mẹ, kết quả là những con chuột con sinh ra đều có dị tật ở chân, tiêm một lượng cafein tương đương với 2 cốc cà phê, kết quả là, bộ phận xương của những con chuột con sinh ra đều phát triển chậm. Các nhà khoa học Đức còn chứng minh, cafein có thể phá hỏng nhiễm sắc thể tế bào người. Nguyên nhân là do kết cấu hóa học của cafein vô cùng giống với nguyên tử hạt của một axit có trong đại phân tử DNA của gen di truyền, như vậy cafein có thể kết hợp với DNA, khiến tế bào dị dạng.

Vì sao phụ nữ mang thai không nên ăn nhiều quẩy rán?

Quẩy rán là một món ăn được nhiều người ưa thích, vì nó tiện lợi, rẻ, hữu ích lại giàu lượng calo. Tuy nhiên, nếu hôm nào cũng ăn, ăn quá nhiều sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe.

  • Giá trị dinh dưỡng của thức ăn giảm: Bởi vì, rán trong nhiệt độ cao, chất dinh dưỡng như Vitamin A, E có trong mỡ và thức ăn sẽ bị phá hỏng, hơn nữa, kết cấu phân tử mỡ bị biến đổi theo chiều hướng xấu, do đó, giá trị dinh dưỡng của mỡ và quẩy giảm rõ rệt, lượng calo hấp thu từ mô chỉ bằng 1/3 so với trước khi rán.
  • Trong quẩy có thể sinh ra độc tố: Khi rán quẩy, nhiệt độ của mỡ tăng, đặc biệt nhiệt độ càng cao khi cho thêm quẩy vào, axit béo dễ tạo thành độc tố như thể đơn tụ dạng vòng, thể nhị tụ, sau khi ăn một lượng lớn quẩy chao dầu, có thể khiến cơ thể ngừng trệ, thể trọng giảm, phù gan gây trở ngại cho sự phát triển, thậm chí còn dẫn tới bệnh ung thư. Ngoài ra, thức ăn được oxi hóa sinh ra dưới nhiệt độ của mỡ còn có thể gây kích thích đối với niêm mạc đường tiêu hóa, nếu tình trạng kéo dài sẽ dẫn tới đau dạ dày.
  • Có thể gây trúng độc nhôm: Khi rán quẩy cho thêm một chút phèn vào bột mì. Thông thường 10kg bột mì cho thêm 150g phèn, vậy thì trong một cái quẩy (50g bột mì) có chứa 10~20mg nhôm. Thường xuyên ăn quẩy tất nhiên sẽ hấp thu một lượng lớn nhôm. Nhôm là nguyên tố vi lượng không thể thiếu đối với cơ thể, sau khi vào cơ thể người, một bộ phận nhôm sẽ được bài tiết ra ngoài theo đường tiêu hóa, số ít sẽ tích tụ lại trong cơ thể. Lượng nhôm sẽ tích tụ ngày một nhiều trong cơ thể, gây ra những nguy hại sau đối với sức khỏe:
    • Có thể ức chế sự hấp thu của ruột với photpho, cản trở sự trao đổi chất của canxi, photpho trong cơ thể.
    • Có thể làm giảm hoạt tính của men anbumin trong dạ dày, ảnh hưỏng tới sự bài tiết của dịch dạ dày, khiến chức năng tiêu hóa giảm.
    • Sẽ ảnh hưởng tới não, khiến trí nhớ giảm sút, trí lực suy yếu.
    • Khi đã vào cơ thể thai nhi thông qua cuông rốn, sẽ gây trở ngại cho sự phát triển não thai nhi, tăng tỉ lệ sinh ra trẻ đần độn.

Để ngăn chặn tác dụng phụ của quẩy, đặc biệt là có thể bị trúng độc nhôm từ từ, phụ nữ mạng thai không nên ăn nhiều quẩy chao dầu.

Không nên uống nhiều cafe khi mang thai

Thực phẩm nên kiêng khi mang thai - Không nên uống nhiều cafe
Thực phẩm nên kiêng khi mang thai – Không nên uống nhiều cafe

Trong cà phê có khoảng hơn 300 thành phần, trong đó chủ yếu là cafein. Cafein là một loại muối sinh vật, có chức năng lợi tiểu và kích thức quá trình trao đổi chất ở não, cơ tim và cơ xương. Hấp thu ít có thể khiến tinh thần hưng phấn, cơ thể khỏe mạnh, mệt mỏi tan biến, nâng cao hiệu quả làm việc. Tuy nhiên, nếu uống quá nhiều cà phê trong thời gian dài, sẽ gây mất ngủ, tăng tỉ lệ ung thư tuyến tụy. Uống cà phê trong thời gian dài còn có thể khiến tim đập nhanh hơn, huyết áp tăng, dễ mắc bệnh vành tim. Cafein còn có thể phá hỏng vitamin, dẫn tới tình trạng thiếu Vitamin B, nhẹ thì gây bồn chồn, mỏi mệt, trí nhớ sa sút, chán ăn, táo bón; Nặng thì gây tổn thương hệ thống thần kinh (viêm thần kinh đa phát), tổn thương tới tim (tim nở ra, tim đập yếu đi), tổn thương các cơ bắp (thu nhỏ) và phù thũng. Theo báo cáo của chuyên gia Cục bảo vệ sức khỏe của Mỹ, phụ nữ uống nhiều đồ uống có chứa cafein như cà phê trong thời kì đầu mang thai rất dễ khiến thai nhi phát triển chậm, sinh ra trẻ thiếu cân. Chuyên gia này đã điều tra 1230 bà mẹ trẻ, phát hiện thấy, tỉ lệ sinh ra trẻ thiếu cân ở những bà mẹ uống cà phê trong thời kì đầu mang thai nhiều gấp 2 lần so với những bà mẹ không uống đồ uống có chứa cafein, tỉ lệ sinh ra trẻ phát triển khác thường cao gấp 4 lần.

Gần đây, một nhóm nghiên cứu sức khỏe của Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của cafein với phụ nữ mang thai và thai nhi. Họ chỉ rõ, ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của cafein đôi với thai nhi là gây dị hình. Cafein qua cuống rốn tích tụ lại trong nước ối và trong thai nhi, gây trở ngại cho tuần hoàn máu của thai nhi, khiến thai nhi phát triển chậm. Phụ nữ mang thai uống cà phê sẽ khiến thời gian mang thai và thời gian đẻ kéo dài, lúc đẻ lượng máu tiết ra nhiều,… Họ còn phát hiện, ảnh hưởng của cà phê đối với phụ nữ mang thai và thai nhi có liên quan mật thiết tới lượng dùng, bởi vậy, phụ nữ mang thai không nên uống quá nhiều.

Các chuyên gia y học khuyên rằng, phụ nữ mang thai không nên hấp thu quá 300mg cafein mỗi ngày.

Vì sao không nên hút thuốc khi mang thai?

Thực phẩm nên kiêng khi mang thai - Phụ nữ mang thai không nên hút thuốc

Đa số mọi người đều biết hút thuốc có hại đối với cơ thể, càng có hại đối với thai nhi. Bởi lẽ, dù phụ nữ mang thai trực tiếp hút thuốc hay ngửi phải khói thuốc thì nicotin, oxit cacbon và những chất gây hại khác trong thuốc đều có thể vào trong máu phụ nữ mang thai thông qua đường hô hấp, ảnh hưởng tới việc hấp thu oxi và các chất dinh dưõng của thai nhi qua cuống rốn, thậm chí còn khiến thai nhi bị dị hình, sảy thai, đẻ non, nặng hơn nữa là tử vong. Trong Hội thảo quốc tế về hút thuốc và sức khỏe sinh sản lần thứ nhất tổ chức tại Mỹ, các nhà khoa học đã đưa ra kết quả nghiên cứu, họ cho biết, ngoài việc gây ra những bệnh như viêm phế quản, tim, ung thư phổi, hút thuốc còn ảnh hưởng rất lớn đối với sức khỏe và việc sinh đẻ của phụ nữ.

Phụ nữ mang thai hút thuốc sẽ tăng tỉ lệ phát sinh và tính nguy hại của hội chứng huyết áp cao thai nghén, bởi vì chất độc trong thuốc có thể khiến huyết quản thu nhỏ, chức năng cuống rốn giảm, triệu chứng trúng độc càng trầm trọng, gây ra bệnh phong. Bệnh phong không chỉ gây nguy hại tới tính mạng cho người mẹ mà còn khiến thai nhi chết yểu. Theo thống kê, người mẹ hút thuốc ở mức độ nhẹ (mỗi ngày ít hơn 20 điếu) thì có 20% thai nhi chết trước khi sinh; Người hút thuốc ở mức độ nặng (Mỗi ngày hơn 20 điếu) thì con so này là 35%. Ngoài ra, nicotin và những chất trao đổi khác có thể làm giảm sự bài tiết của xê-tôn hoàng thể phụ nữ mang thai, ảnh hưởng tới sự phát triển của trứng thụ tinh trong tử cung, dẫn tới sảy thai hoặc đẻ non. Theo một báo cáo của một nhóm nhà nghiên cứu người Anh, tỉ lệ đẻ non ở những bà mẹ không hút thuốc là 6.3%, mà ở những bà mẹ hút thuốc thì con số này là 12.6%.

Sau khi tiến hành điều tra đối với 305 bà mẹ có con dưới 16 tuổi mắc bệnh ung thư được điểu trị từ năm 1978-1981 các chuyên gia y học Thụy Điển phát hiện thấy, tỉ lệ những đứa trẻ được sinh ra bởi những bà mẹ hút thuốc trong khi mang thai mắc các bệnh ung thư ác tính như máu trắng, ung thư tuyến dịch lim-pho và ung thư thận sẽ cao hơn gấp đôi so vối những đứa trẻ được sinh ra bởi những bà mẹ không hút thuốc. Các chuyên gia cho rằng, nguyên nhân là do chất gây ung thư trong thuốc lá vào cuông rốn tạo nên.

Điều chúng ta cần lưu ý là, hút thuốc còn ảnh hưởng kéo dài tới trí lực và thể lực của thai nhi sau khi Ị ị được sinh ra, như: Não phát triển chậm, tiểu cảu ị I giảm,… Nghiên cứu cho thấy, trẻ được sinh ra bởi bà mẹ j

  • hút thuốc thường xuyên mỏi mệt, tinh thần rệu rã, phản ứng chậm, khả năng thích ứng kém, dễ mắc các bệnh khác. Có người cho rằng, ảnh hưởng không tốt tới trí lực và thể lực của thai nhi kiểu này ít nhất sẽ kéo dài tới 12 tuổi, điều này sẽ mang lại áp lực và gánh nặng to lớn cho gia đình và xã hội.

Chúng ta đã nói tới sự nguy hại to lớn của việc phụ mang thai hút thuốc gây ra cho thai nhi, bên cạnh đó chúng ta cũng không thể xem nhẹ việc người chồng hút thuốc, n lẽ, người chồng hút thuốc cũng sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi

trong bụng người vợ. Người chồng hút thuốc không những khiến ngưòi vợ trở thành “người hít khói thuốc” mà còn khiến chất lượng tinh trùng của bản thân ngưòi chồng giảm, khả năng hoạt động của tinh trùng kém hẳn, từ đó ảnh hưỏng tới chất lượng của thế hệ sau. Nếu vợ chồng đều là “con sâu thuốc” thì nguy hại cho thai nhi càng lớn.

Do vậy, chúng tôi khuyên rằng, các cặp vợ chồng trẻ hãy dừng hút thuốc 3 tháng trưóc khi muốn có con, như vậy thai nhi mổi có thể tránh được nguy hại do thuốc lá gây ra.

 

Nguyên tố vi lượng đối với phụ nữ mang thai

Cơ thể người được cấu tạo bởi gần 60 nguyên tố. Ngoài những nguyên tố chính, chiếm phần lớn trong cơ thể như cacbon, hydro, oxi, clo, kali, canxi, magie, photpho, lưu huỳnh, còn có số ít hàm lượng nguyên tố khác, nồng độ dưới 0.005%, những nguyên tố này gọi là nguyên tố vi lượng. Những nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể có 14 loại: sắt, i-ôt, đồng, kẽm, man-gan, cô-ban, sê-len, mo-lip-den, crômi, niken, fluor, vanadi, silic, thạch tín. Mặc dù hàm lượng của chúng cực ít, như kẽm chỉ chiếm 33/triệu, fluor không quá 40/triệu, sắt cũng chỉ chiếm 60/triệu trong cơ thể người, song chúng lại đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất và các hoạt động sinh lý của cơ thể người. Do nhu cầu phát triển của thai nhi và nhu cầu bài tiết các chất nên chức năng trao đổi chất ở cơ thể phự nữ mang thai tăng rõ rệt, đương nhiên các nguyên tố vi lượng cần thiết để hình thành một số men nào đó cũng phải tăng theo. Do vậy, nếu cơ thể mẹ không được cung cấp đủ nguyên tố vi lượng cần thiết thì sẽ gây ăảnh hưởng xấu cho cả mẹ và con, nhẹ thì thai nhi dị tật, nặng thì sảy thai, chết lưu.

Sắt

Nguyên tố vi lượng đối phụ nữ mang thai - Thực phẩm bổ sung sắt
Nguyên tố vi lượng đối phụ nữ mang thai – Thực phẩm bổ sung sắt

Sắt là một trong những nguvên tố vi lương quan trọng của cơ thể con người, là thành phần cơ bản cấu thành huyết sắc tố trong hồng cầu. Theo thống kê, có khoảng 10~20% phụ nữ mang thai có tình trạng dinh dưỡng tương đối tốt bị thiếu sắt, và có khoảng 50% phụ nữ mang thai dinh dưỡng bình thường thiếu sắt. Hậu quả trực tiếp của thiếu sắt là thiếu máu, thiếu máu sẽ gây tác hại nghiêm trọng đối với phụ nữ mang thai. Trước hết, nó làm giảm sức đề kháng và miễn dịch của phụ nữ mang thai, khiến phụ nữ mang thai dễ mắc các bệnh truyền nhiễm. Theo lâm sàng, trong quá trình mang thai, phụ nữ mang thai thiếu máu dễ mắc các bệnh như: viêm đường hô hấp, viêm phế quản, tiêu hóa kém, nặng còn có thể khiến chức năng tim suy giảm. Tiếp đến, thiếu máu tăng nguy hiểm cho sinh đẻ. Phụ nữ mang thai thiếu máu nghiêm trọng không đảm đương nổi gánh nặng mất máu khi sinh, khiến toàn thân kiệt quệ, thậm chí tử vong. Người mẹ thiếu máu, ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi, khiến thai nhi phát triển chậm trong tử cung. Lâm sàng chứng minh, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới đẻ non,  thể trọng trẻ sơ sinh thấp có mối quan hệ với thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai. Từ đó có thể thấy, phụ nữ mang thai không nên coi thường việc bổ sung sắt.

Bình thường phụ nữ mang thai cần chú ý ăn nhiều thức ăn giàu sắt, có lợi cho việc bổ sung sắt đối với cơ thể. Đậu tương, đậu phụ, gạo nếp, gan dê, thịt nạc, gan lợn, máu động vật, rau cần, rong biển, bắp cải tím, mộc nhĩ,… là những thức ăn có chứa sắt phong phú. Cơ thể ngưòi có thể hấp thu được 25% sắt có trong gan và máu động vật, mà không chịu sự ảnh hưởng của bất cứ thức ăn khác; Trong khi đó, những thực phẩm mang tính thực vật như: Lương thực, rau… con người lại chỉ có thể hấp thu được 3%, hơn nữa còn chịu sự ảnh hưởng của thành phần khác trong thức ăn. Vậy, làm thế nào để tăng tỉ lệ hấp thu sắt thực vật? Nghiên cứu cho thấy, Vitamin C và các loại thịt có thể nâng cao tỉ lệ hấp thu sắt. Sau bữa ăn có thể ăn một loại quả giàu vitamin C, thì tỉ lệ sắt hấp thu được tăng 3~5 lần; Mỗi bữa, ăn-khoảng 25~50g thịt thì lượng sắt hấp thu cũng tăng rõ rệt: Nấu ăn kết hợp cả thịt, rau tươi hoặc hoa quả thì tỉ lệ sắt hấp thu được sẽ càng cao

Iôt

lốt chiếm hàm lượng cực nhỏ trong cơ thể người, cơ thể một người trưởng thành khỏe mạnh bình thường có chứa khoảng 50mg iốt. Iốt phát huy hiệu ứng sinh lý thông qua sự hợp thành tố tuyến giáp trạng. Vai trò sinh vật học của tố tuyến giáp trạng bao gồm các chức năng quan trọng như: Thúc đẩy sự hợp thành của protein, làm tăng hoạt tính của hơn 100 loại men, điều tiết sự thay đổi năng lượng; thúc đẩy phát triển, duy trì kết cấu củahệ thống thần kinh trung ương, bảo đảm trạng thái thần kinh và hình thái cơ thể bình thường, tham gia quá trình trao đổi chất. Sau khi mang thai, thai nhi liên tục phát triển, do vậy lượng iốt cần thiết ở cơ thể phụ nữ mang thai cũng cần tăng theo. Khi phôi thai được 13~22 tuần, khoảng thời gian này chính là lúc tế bào và thần kinh hình thành, nếu thiếu nguyên tố iốt và hormon tuyến giáp thì sẽ khiến vùng thính giác, ngôn ngữ và trí lực ở vỏ não không thể phân hóa và phát triển hoàn toàn. Sau khi trẻ được sinh ra, mức độ biểu hiện của bệnh cũng khác nhau, có thể mắc các bệnh dị tật bẩm sinh như: Điếc, đần độn, cơ thể thấp bé, hay co giật, trí lực kém, đầu bé, vị trí tai thấp…

Hàm lượng iốt có trong động thực vật có nguồn gốc từ biển nhiều nhất, đây chính là lý do vì sao nước biển giàu iốt. Hàm lượng iốt trong những loại rau, quả sinh ra từ biển tương đối cao. Muốn bổ sung iốt có thể ăn đồ biển như: rong biển, hải sâm, tảo cao, sò, nghêu, sứa,… Để chống bệnh thiếu iôt, cũng có thể ăn thêm muối iốt.

Đồng

Hàm lượng đồng trong cơ thể người khoảng 75~150mg, chủ yếu phân bố ở não, gan, thận, tim, tủy và tóc. Đồng là bộ phận cấu thành nên nhiều loại men trong cơ thể người. Phụ nữ mang thai thiếu đồng sẽ ảnh hưởng tới sự phân hóa và phát triển bình thưòng của phôi thai và thai nhi, dẫn tới dị tật bẩm sinh hoặc đẻ non. Nguyên nhân đó là: Khi phụ nữ mang thai ở vào thời kì sinh lý đặc biệt máu có thể “hút” nguyên tố đồng ở các cơ quan khác của cơ thể, do vậy trong thời kì mang thai, hàm lượng đồng trong máu của phụ nữ mang thai tăng rõ rệt, bình quân đạt 20mg/lít, cao nhất có thể tới 410mg/lít. Nếu cơ thể phụ mang thai thiếu đồng thì máu khó có thể “hút” đủ nguyên tố đồng. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy, cơ thể người mẹ thiếu đồng sẽ khiến độ bền và tính đàn hồi của màng ối giảm, tính giòn tăng, dễ dẫn tới đẻ sớm hoặc sảy thai do màng ối bị rách. Khi phụ nữ mang thai thiếu đồng có thể làm nặng thêm bệnh thiếu máu do thiếu đồng, khó làm thay đổi được tình trạng thiếu máu; thiếu đồng ở giai đoạn cuối thai nghén còn có thể gây cản trở cho sự phát triển tế bào thần kinh của thai nhi và mất cân bằng chung cho toàn bộ cơ thể sau khi sinh.

Do vậy, phụ nữ mang thai cần chú ý bổ sung đồng. Biện pháp tốt nhất bổ sung đồng là bổ sung thức ăn. Những thức ăn có chứa đồng phong phú là: Gan, bầu dục, lòng đỏ trứng gà, các loại cá (đăc biệt là cá biển), các loai thủy sản như sò, ngao, trai và các loại lương thực.

Kẽm

Nguyên tố vi lượng đối phụ nữ mang thai - Thực phẩm bổ sung kẽm
Nguyên tố vi lượng đối phụ nữ mang thai – Thực phẩm bổ sung kẽm

Hàm lượng kẽm trong cơ thể người khoảng 2- 4g, chủ yếu phân bổ ở tóc, xương, gan, thận, cơ bắp, tinh hoàn, hồng cầu trong máu. Nó có liên quan mật thiết tới hơn 80 loại men, chức năng chủ yếu là tham gia cấu thành các loại men trong cơ thể, thúc đẩy hoạt tính của men, tham gia trực tiếp vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Sau khi mang thai lượng kẽm cần thiết đối với cơ thể phụ nữ mang thai tăng, do dung lượng huyết tương sau khi mang thai tăng, ảnh hưởng của kích tố đến cuống rốn và sự hấp thu của thai nhi đã thúc đẩy sự trao đổi kẽm trong cơ thể diễn ra nhanh hơn. Phụ nữ thiếu kẽm trong thời kì mang thai dễ bị sảy thai, đẻ non, thai chết lưu, thai bị dị tật bẩm sinh, và gây ra những tổn hại nghiêm trọng đối với hệ thống thần kinh trung ương và xương của thai nhi. Những phụ nữ mang thai có nồng độ kẽm thấp hơn mức bình thường thì sẽ sinh ra những đứa trẻ thiếu tháng có nồng độ kẽm trong máu thấp hơn những đứa sinh đủ tháng. Hàm lượng kẽm trong cơ thể người mẹ không đủ nên lượng kẽm đưa tới thai nhi qua cuống rốn cũng giảm. Theo nghiên cứu của Mỹ, tỉ lệ sinh ra trẻ dị tật bẩm sinh có thể nhìn thấy bằng mắt thường ở những phụ nữ mang thai thiếu kẽm tương đối cao, đạt 13~83%, bao gồm những bệnh như: sứt môi, hở hàm ếch, vẹo cột sống, chân dị tật, mắt quá nhỏ hoặc không có mắt và những khác thường về tim và phổi.

Lượng kẽm cần thiết cho một người bình thường mỗi ngày không quá 15mg. Tổ chức y tế thế giới khuyên rằng: Lượng kẽm cần thiết cho phụ nữ mang thai cứ 6 ngày là 20mg. Tuy nhiên, dựa vào tình hình kinh tế và kết cấu bữa ăn hiện nay của chúng ta thì phụ nữ mang thai khó mà hấp thu đủ lượng kẽm cần thiết từ trong bữa ăn bình thường. Do vậy, cần bổ sung những thức ăn có hàm lượng kẽm phong phú, như: Những thức ăn giàu protein như con hàu, thịt bò, các loại cá. ngoài ra hàm lượng kẽm trong thịt gà, thịt vịt, trứng gà, sữa, dầu lạc, đỗ tương, rau cải trắng, cà rốt, cà tím và các loại lương thực cũng khá cao. Theo ước tính, mỗi kg tiểu mạch có chứa 29mg kẽm, mỗi kg đậu tương có chứa khoảng 35mg, mỗi kg rau cải trắng có chứa khoảng 42mg, mỗi kg cà có chứa khoảng 28mg.

Fluor

Hàm lượng Flour trong cơ thể người cực ít trong đó tập trung chủ yếu ở xương và răng. Fluor có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của xương và răng. Phụ nữ mang thai nếu thiếu fluor có thể gây trở ngại cho sự hình thành xương và răng của thai nhi. Do vậy, không thể xem nhẹ việc bổ sung fluor. Fluor hầu như tồn tại trong mọi thức ăn thông thường, đặc biệt tập trung nhiều nhất ở lá rau, là nguồn cung cấp fluor tốt nhất cho cơ thể. Hoa quả, rau, lương thực cũng chứa fluor.

Man-gan

Man-gan có liên quan tới sự hợp thành của macopolg sacrotein. Macnnolp sacrotein là thành phần quan trọng của xương sụn và xương. Thiếu Man-gan sẽ gây trở ngại cho sự hợp thành của macopolg sacrotein, ảnh hưởng tới sự hình thành chất hữu cơ của xương, dẫn tới xương bị dị hình, biểu hiện ở xương sụn không đủ dinh dưỡng, xương ống dày và ngắn, túi tai và xương tai không thể canxi hóa hết. Trẻ mới sinh mất cân bằng về cơ thể, chức năng não cũng mất cân bằng, hơn nữa còn có biểu hiện bị ngất hoặc động kinh. Thậm chí, phụ nữ mang thai dễ bị sảy thai mang tính quy luật, lượng sữa tiết ra sau khi sinh ít. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, lượng man-gan có chứa trong thịt, sữa, các sản phẩm tinh chế từ ngũ cốc thấp, trong khi đó lượng man-gan có trong các loại thực phẩm ngũ cốc thô, quả cứng) thực vật có nguồn gốc đậu (đậu cove, đậu hà lan,…) và những loại rau lá xanh tương đối cao, đây là nguồn cung cấp man-gan chủ yếu cho cơ thể phụ nữ mang thai.

Ăn gì khi mang thai

 Ba tháng đầu mang thai nên ăn gì?

Ăn gì khi mang thai - Dinh dưỡng cho bà bầu 3 tháng đầu
Ăn gì khi mang thai – Dinh dưỡng cho bà bầu 3 tháng đầu

Khi người phụ nữ bắt đầu mang thai, điều này có nghĩa là một sinh linh nhỏ bé đang lớn lên trong cơ thể người mẹ. Cùng với sự phát triển của thai nhi, nhu cầu về dinh dưỡng của cơ thể người mẹ cũng tăng theo, như mọi người vẫn thường nói, phụ nữ mang thai cần ăn cơm cho hai người, ăn một phần cho trẻ đang trong bụng.

Nhìn chung, phụ nữ mang thai cần ăn nhiều thức ăn có chứa protein, khoáng chất và vitamin phong phú, như: Thịt nạc, sữa, trứng gà, cá, tôm, rong biển, vừng, những loại rau tươi, hoa quả. 3 tháng đầu mang thai, do thai nhi phát triển chậm, mỗi ngày tăng khoảng 1g, nên chưa cần phải bổ sung dinh dưỡng đặc biệt. Nếu không có hiện tượng “nghén” thì mỗi ngày ăn 3 bữa, bổ sung thêm một chút thức ăn có giá trị dinh dưỡng là được; Một số phụ nữ mang thai xảy ra hiện tượng “nghén” với mức độ khác nhau, như đau đầu, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, ăn thiên về một món, sợ mùi dầu mỡ,… thậm chí còn nôn mửa. Nếu ôm nghén kéo dài, sẽ khiến cơ thể phụ nữ mang thai mệt mỏi, ảnh hưỏng không tốt cho thai nhi. Lúc này, nên uống thuốc theo sự chỉ dẫn của bác sĩ, như uống vitamin B6 để chống buồn nôn, nôn mửa. Mỗi ngày uống 20mg, ngày uống 3 lần. Nên ăn những món ăn nhạt, dễ ăn, như cháo gạo tẻ, cháo gạo nếp, mì, miên, canh trứng, vằn thắn, ăn với đậu phụ, rau cải xanh, dưa muối,…; Còn có thể ăn hoa quả có vị chua, như lê, cam quýt,… Chú ý liên tục thay đổi thực đơn để kích thích ham muốn ăn, đồng thời có thể chọn biện pháp “ăn đàn hồi”, tức là khi muốn ăn thì ăn nhiều một chút, khi không muốn ăn thì ăn ít đi một chút, chỉ cần hàng ngày hấp thu đủ lượng dinh dưỡng cần thiết là được. Đợi sau khi hết ốm nghén thì có thể ăn uống bình thường. Tuy nhiên, dù ăn uống thế nào cũng phải đảm bảo vệ sinh, đề phòng rối loạn tiêu hóa.

Ba tháng giữa mang thai nên ăn gì?

3 tháng giữa của kì thai nghén, ham muốn ăn của phụ nữ mang thai tăng rõ rệt, thai nhi phát triển nhanh chóng mỗi ngày có thể tăng khoảng 10g, có nhu cầu lớn đối với các chất dinh dưỡng. Để đáp ứng đủ nhu cầu về dinh dưỡng, phụ nữ mang thai nên ăn nhiều những thức ăn sau:

  • Ăn nhiều thức ăn có chứa protein phong phú, như: Thit nạc, cá, sữa, trứng gà, các sản phẩm chếbịến từ đậiu Bơi vì, protein la chât cơ bản nhất cấu thành cơ thể thai nhi, cung cấp đủ protein thì có lợi cho sự sinh sôi nảy nở tế bào não của thai nhi, khiến não thai nhi phát triển tốt. Đồng thời, cũng thỏa mãn những nhu cầu thay đổi về cơ thể của phụ nữ mang thai, ở giai đoạn này, mỗi ngày, phụ nữ mang thai cần hấp thu 85g protein thì có thể thỏa mãn nhu cầu cần thiết cho cơ thể.
  • Ăn nhiều chất có chứa hàm lượng muối vô cơ như canxi, sắt,… phong phú. Canxi là chất không thể thiếu cho sự phát triển xương của thai nhi, do vậy, phụ nữ mang thai cần hấp thu đủ canxi. Nếu thiếu canxi, thai nhi sẽ dễ bị còi xương sau khi sinh, cơ thể phụ nữ mang thai cũng dễ bị loãng xương. Sắt là chất tạo máu cần thiết cho cơ thể, nếu phụ nữ mang thai mắc bệnh thiếu máu do thiếu sắt thì có thể làm giảm tốc độ tăng trọng lượng của thai nhi. Khi thiếu máu nghiêm trọng, có thể dẫn tới đẻ sớm, thai chết lưu. Vì thiếu máu, sự co bóp của tử cung cũng không tốt, dẫn tới chảy máu nhiều sau khi sinh. Đề phòng bệnh thiếu canxi, sắt, mỗi ngày phụ nữ mang thai cần hấp thu 1.5g canxi, 15mg sắt. Để bổ sung các loại muối vô cơ khác cần thiết cho cơ thể, mỗi bữa ăn nên ăn các loại thức ăn như: canh sườn, bột xương, lòng đỏ trứng gà, các loại sữa, các sản phẩm chế biến từ đậu, gan, thận, tim lợn, thịt nạc, rau lá xanh và hoa quả,… Nếu cần phải uống thuốc bổ sung canxi, sắt, dầu cá thì phải tuân theo sự hướng dẫn của bác sĩ.
  • Ngoài ra, tử cung của phụ nữ mang thai trong giai đoạn này phát triển nhanh chóng, đường ruột bị ép chặt, dễ bị táo bón, cần chú ý ăn nhiều thức ăn có hàm lượng chất xơ phong phú, như: Lương thực chính, các loại đậu, rau cần, cà rốt, củ cải dâu tây…
  • Ăn nhiều thứ ăn chứa vitamin phong phú. Cơ thể người cần nhiều loại vitamin để thỏa mãn nhu cầu phát triển của các cơ quan. Như vitamin A có thể tăng sức đề kháng cho phụ nữ mang thai, thúc đẩy sự phát triển của thai nhi; Vitamin nhóm B có thể tăng cảm giác thèm ăn, giúp tiêu hóa, thúc đẩy thai nhi phát triển và việc bài tiết sữa của phụ nữ mang thai,…; Vitamin C có thể phòng chống bệnh thiếu máu và bệnh máu xấu; Vitamin D có thể giúp hấp thu canxi, photpho, thúc đẩy sự phát triển của xương,… Những thức ăn có chứa vitamin phong phú như: Xương sườn, lòng đỏ trứng gà, cà rốt, loại ngủ cốc, lạc, đậu quả, các loại sữa, tôm và các ọại rau tươi, hoa quả.

Ba tháng mang thai cuối nên ăn gì?

Ăn gì khi mang thai - Dinh dưỡng cho bà bầu 3 tháng cuối
Ăn gì khi mang thai – Dinh dưỡng cho bà bầu 3 tháng cuối

3 tháng cuối của thai kì, tốc độ phát triển của thai nhi vô cùng nhanh, các chất dinh dưỡng cũng đòi hỏi nhiều hơn. Ở giai đoạn này, những chất dinh dưỡng không chỉ cần cung cấp cho sự phát triển của thai nhi, mà còn cần dự trữ lại môt phần, để chuẩn bị cung cấp cho những việc như: mất máu sau khi sinh, tiêu hao thể lực, cho con bú sau khi sinh. Do vậy, trong 3 tháng cuối này, phụ nữ mang thai cần ăn nhiều những chất có giá trị dinh dưỡng cao, như: Các loại sữa, thịt nạc, các loại cá,… Để tăng cường hàm lượng chất khoáng và các vitamin trong cơ thể, phụ nữ mang thai còn cần ăn nhiều tôm, cua, rong biển, các sản phẩm chế biến từ đậu, xương sườn, gan lợn, các loại rau có màu vàng, xanh và hoa quả. Đồng thời, hạn chế hấp thu những thức ăn nhiều mỡ, các loại bột để tránh thai nhi quá mập, gây khó khăn cho việc sinh nở. Trong suốt quá trình mang thai không nên ăn thức ăn quá mặn. Khi mắc bệnh huyết áp cao hoặc phù thũng, hạn chế ăn muối. Nhìn chung, giảm ăn những sản phẩm có vị mặn như cá muối khô, dưa. Khi nấu không nên cho muối và xì dầu, lúc ăn có thể rắc một chút lên, như vậy vừa có vị mặn lại đảm bảo lượng muối và xì dầu vừa phải. Cũng có thể ăn một số thức ăn có vị chua hoặc vị ngọt để thay thế cho thức ăn có vị mặn.

Bổ sung dinh dưỡng thế nào khi mang thai?

Ăn gì khi mang thai - Bổ sugn sắt và canxi cho bà bầu

Khi lần đầu tiên cảm thấy những cử động của thai nhi trong bụng, người mẹ sẽ vô cùng ngạc nhiên xen lẫn mừng, nhất định sẽ tự cầu nguyện cho bé yêu của mình mạnh khỏe hoạt bát, thông minh lanh lợi.

Làm thế nào để đảm bảo bé yêu sinh ra khỏe mạnh, thông minh? Dinh dưõng cho phụ nữ mang thai là điều kiện quan trọng nhất. Trứng thụ tinh trưởng thành, trọng lượng chỉ có 0.5mg, qua “9 tháng 10 ngày” có thể tạo thành thai nhi

nặng 3000~3400g. Trong 280 ngày ngắn ngủi, thể trọng tăng hơn 600 triệu lần, quả là một kì tích. Đó là kết quả thai nhi hấp thu đủ dinh dưỡng từ cơ thể mẹ. Khi thai nhi nặng khoảng 1000g trong cơ thể mẹ, đã hấp thu 1700g protein, 500g mỡ từ cơ thể mẹ, các chất khác như vitamin, muối vô cơ, đường gluco,… cũng lấy từ cơ thể mẹ. Do vậy, người mẹ phải đảm đương trọng trách cung cấp dinh dưỡng cho cả bản thân và thai nhi. Để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và con, phụ nữ mang thai nhất thiết cần hấp thu đủ dinh dưỡng.

Điều đặc biệt cần nói là, protein có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển não của thai nhi và trẻ sơ sinh. Từ tuần 10~18 sau khi mang thai là thời điểm tế bào não của thai nhi phát triển mạnh nhất, đây là đỉnh cao đầu tiên của sự phát triển não. Tới tuần thứ 23, kết cấu 6 tầng tế bào của vỏ não thai nhi về cơ bản đã định hình. Tháng thứ 3 sau khi sinh, tế bào não trẻ sơ sinh phát triển mạnh mẽ, đây là đỉnh cao thứ hai của sự phát triển não. Khi não phát triển ở đỉnh cao đầu tiên, số lượng, thể tích, cùng với sự phát triển vượt trội của tế bào não, sẽ ảnh hưởng lớn tới sự phát triển trí lực trong tương lai của thai nhi. Sự phát triển của tế bào não thai nhi hoàn toàn dựa vào thành phần dinh dưỡng của người mẹ thông qua máu, do vậy, muốn não của bé yêu phát triển tốt, người mẹ nên hấp thu đủ các chất dinh dưỡng như protein, mỡ, vitamin, muối vô cơ…, ngay từ lúc bắt đầu mang thai tới lúc cho con bú sau này. Có người cho rằng, thức ăn đắt đỏ, ăn nhiều thịt, nhiều cá một chút là đủ dinh dưỡng rồi, kì thực, nghĩ vậy là không đúng. Chỉ ăn nhiều cá, thịt, không ăn rau xanh sẽ dẫn tới mất cân bằng dinh dưỡng, gây ra tthững bệnh do thiếu vitamin, như chảy máu răng, tay chân co giật, xương mềm, thiếu máu,…Ngoài ra, thừa dinh dưỡng, cũng sẽ khiến phụ nữ mang thai béo phì, thai nhi quá trọng lượng, gây khó đẻ. Do vậy, cần ăn uống hợp lý.

Vậy, phụ nữ mang thai ăn uống thế nào mới hợp lý? Yêu cầu cơ bản là:

  • Thứ nhất, các loại dinh dưỡng và lượng calo trong bữa ăn phải thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng của phụ nữ mang thai
  • Thứ hai, thực đơn các bữa ăn cần đa dạng nhằm kích thích ăn uống, lựa chọn thức ăn cần dựa theo nhu cầu dinh dưỡng và thói quen, ăn các món ưa thích của phụ nữ mang thai
  • Thứ ba, chế độ ăn uống hợp lý. Đã từng có cuộc điều tra đối với thực đơn của một số phụ nữ mang thai, kết quả cho thấy lương thực chính của phụ nữ mang thai nên phối hợp cả thô và mịn, thức ăn phụ chủ yếu là rau xanh, các loại đậu, thực phẩm động vật, lượng calo mỗi ngày cần 2500 kg calo. Lượng dinh dưỡng cần thiết hàng ngày nên theo tiêu chuẩn: 80~90g protein, 1~1.5g canxi, 18mg sắt, 1.5 mg vitamin B1, 1.5mg vitamin B2, 80 mg vitamin C, 6mg carotin, 3300 đơn vị quốc tế vitamin A.

Trong 3, 4 tuần đầu mang thai, thai nhi phát triển tương đối chậm, mỗi ngày thể trọng chỉ tăng khoảng 1g. Lúc này, chưa có yêu cầu gì nhiều về dinh dưỡng của phụ nữ mang thai, song phản ứng thai nghén như buồn nôn, nôn mửa, cơ thể mệt mỏi, chán ăn, ăn thiên về một món,… bắt đầu xuất hiện, đã gây ảnh hưỏng đối với dinh dưỡng cơ thể. Lúc này, ăn uống nên tuân theo nguyên tắc “dễ tiêu hóa là chính”. Sau khi nôn ra hết thì cần cố gắng ăn vào để đảm bảo dinh dưỡng bình thường. Nếu nôn quá nhiều, nên ăn ít, ăn làm nhiều bữa, ăn những món ăn thanh đạm như cháo loãng, sữa đậu nành, sữa, rau tươi, hoa quả và các loại trứng,… Nếu nôn quá mức, có thể tạm thời ngừng ăn trong 24 giờ, nhằm giúp đường tiêu hóa khôi phục lại bình thường. Không nên ăn những thức ăn có chứa dầu mỡ, khó tiêu hóa, khi ăn cơm nên chan canh, uống nước lọc và đồ uống. Để chống nôn mỗi tối chuẩn bị một chút đồ ăn dễ tiêu hóa, như bánh mì, bánh bao, bánh trứng, bánh quy….Mỗi sáng ngủ dây, uống một cốc nước lọc, ăn sáng, nằm môt lát rồi mới dậy. Làm vậy có thể phòng chống hoặc làm giảm nôn, bảo đảm phụ nữ mang thai hấp thu đủ dinh dưỡng cần thiết.

Từ tuần mang thai thứ 11 trở đi, cùng với sự phát triển của thai nhi, ngoài việc hấp thu dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, người mẹ còn cần cung cấp đủ dinh dưỡng cho thai nhi, lượng calo trong cơ thể người mẹ giảm theo sự phát triển của thai nhi, do vậy, cần chú ý phối hợp các loại lương thực chính như gạo nếp, mì, gạo tẻ, ngô, khoai lang,… sao cho đa dạng. Tuy nhiên, nếu cung cấp lượng calo quá mức cần thiết, thì sẽ dẫn tới lượng calo dư thừa tích tụ lại ở dạng mỡ, khiến thai nhi quá to, gây khó khăn cho quá trình sinh đẻ sau này. Do vậy, trong giai đoạn này, phu nữ mang thai nên an nhiều thức ăn phụ, lương thực chính duy trì ở mức thường ngày là được.

Ở giai đoạn giữa thai kì, mỗi ngày thai nhi tăng khoảng 10g, đòi hỏi lượng chất dinh dưỡng lớn. Lúc này, khẩu vị của phụ nữ mang thai khá tốt, do vậy, có thể đảm bảo cung cấp đầy đủ các loại chất dinh dưỡng cần thiết. Dựa theo mức trung bình hiện nay, mỗi ngày phụ nữ mang thai cần hấp thu lượng dinh dưỡng tối thiểu như sau:

  • 1-2 quả trứng gà, 50~100g thịt nạc (bao gồm cả thịt gà, cá, tôm, phủ tạng), 100~130g các loại đậu (bao gồm đậu tươi, đậu khô, các sản phẩm chế biến từ đậu), 500~750g rau (nên chọn các loại rau lá xanh), 400~500g các loại ngũ cốc (kết hợp cả thô và mịn), lượng dầu và đường thích hợp. 1 tuần còn có thể ăn một chút rong biển, bắp cải tím, tôm nõn,… để bổ sung iốt và caxi, uống sữa để bổ sung thêm protein, các nguyên tố vi lượng như canxi, iốt và vitamin A vitamin D..

Để phòng chống bệnh táo bón, phụ nữ mang thai cần chú ý ăn nhiều rau xanh có chứa chất xơ như khoai sọ, tỏi tươi, rau hẹ, cải dầu, súp lơ,..và các loại quả như  trám, táo ta,…

Giai đoạn cuối của thai kì, thai nhi phát triển vô cùng nhanh, lúc này còn cần chuẩn bị dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh, trọng điểm ăn uống của phụ nữ mang thai nên là các loại thức ăn chứa protein, hạn chế mỡ, cacbonhydrat để tránh thừa lượng calo, khiến thai nhi quá to, gây phiền toái cho lúc sinh. Dung tích đường ruột của phụ nữ mang thai giảm theo sự tăng trưởng của thai nhi, do vậy, phụ nữ mang thai cần ăn ít, ăn làm nhiều bữa. Nếu xuất hiện hiện tượng phù chân, phụ nữ mang thai cần giảm bớt thức ăn có chứa nhiều muối, bởi vì muối quá nhiều sẽ khiến nước tích tụ nhiều ở cơ thế, càng gây phù thũng, tăng gánh nặng cho tim và thận.

Tóm lại, ăn uống đủ chất, khoa học là khâu quan trọng đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cả phụ nữ mang thai và thai nhi, khiến cả mẹ và con đều khỏe mạnh. Nên ăn vừa đủ gà, vịt, cá, thịt, trứng, cộng thêm lương thực thô, hoa quả tươi và rau. Ngoài ra, con nên ăn các loại đậu, sản phẩm chế biến từ đậu, lạc, vừng,… Các thức ăn giàu protein, vitamin, muối vô cơ như sắt, canxi… không thể thiếu đối với phụ nữ mang thai.

“Mặc đẹp” khi mang thai

Chọn “đồ bầu” thế nào cho thích hợp?

Sau khi mang thai, trẻ liên tục phát triển trong cơ thể mẹ, khiến bụng phụ nữ mang thai ngày một to lên, đi lại khó khăn, quần áo trước đây không thể vừa với cơ thể, chúng trở nên nhỏ và hẹp, bó sát lấy người, gây khó chịu, ảnh hưởng tới tuần hoàn máu trong cơ thể, dẫn tới hiện tượng phồng tĩnh mạch chân và hạn chế hoạt động của thai nhi. Do vậy, sau khi mang thai, nên mặc quần áo nhẹ, mềm, rộng rãi một chút, áo lót, quần lót không nên quá chật, chun quần có độ co dãn thích hợp. Như vậy mới có lợi cho sức khỏe của người mẹ thai, cũng có lợi cho sự phát triển của thai nhi. Nhìn chung, phụ nữ mang thai thường dễ ra mồ hôi vào mùa hè, nên mặc quần áo rộng rãi, thoải mái, nếu mặc quần áo, váy, tất làm bằng chất liệu thiên nhiên thuần bông, thuần tơ hay bằng cotton thì không chỉ làm giảm sự tiết mồ hôi mà những chất liệu mềm mại này còn đem lại cảm giác thoải mái, dễ chịu. Mùa đông cần mặc quần áo ấm bằng chất liệu nhung, nun, vừa nhẹ nhàng lại vừa hợp mốt, vô cùng có lợi đối với cơ thể “cồng kềnh”.

Những yêu cầu về ăn mặc sau khi mang thai

Có không ít phụ nữ sau khi mang thai, vẫn mặc quần áo chật chội, bó sát cơ thể, mặc như vậy là không khoa học. Bởi vì trong thời kì mang thai, cơ năng sinh lý và thể hình của phụ nữ đều có sự biến đổi rõ rệt. Sự biến đổi này biểu hiện chủ yếu ở những mặt sau:

  • Cùng với sự phát triển của thai nhi, tử cung ngày một to ra, bụng cũng ngày một lớn. phu nữ mang thai đi ưõn người về phía trước để đảm bảo cân bằng cho thấy rõ “tư thế kiêu ngạo”.
  • Dung lượng máu trong cơ thể phụ nữ mang thai tăng, dễ xảy ra hiện tượng tích tụ natri, đặc biệt là từ tuần mang thai thứ 28 trở đi, đa số phụ nữ mang thai xuất hiện hiện tượng phù thũng với mức độ khác nhau (chủ yếu là ở chân).
  • Hoạt động trao đổi chất ở phụ nữ mang thai diễn ra mãnh liệt, nhiệt độ của da nóng lên, chức năng bài tiết tuyến nhờn và tuyến mồ hôi tăng cường.
  • Do ảnh hưỏng của nhân tố nội tiết, vú phụ nữ mang thai ngày một đầy lên để làm tốt công việc chuẩn bị cho bé bú sau khi chào đời. Ngoài ra, để hấp thu đủ oxi cần thiết cho cơ thể và thai nhi, phụ nữ mang thai tăng cường hô hấp, mà chủ yếu hô hấp bằng ngực, kết quả là ngực càng to hơn so với bình thường.

Dựa theo những đặc điểm biến đổi ngoại hình của mình, phụ nữ mang thai nên lựa chọn cách ăn mặc sao cho thích hợp, thuận tiện, đạt được yêu cầu rộng rãi, thoáng mát, hình thức đơn giản, sạch sẽ.

Áo nên rộng rãi, thoáng khí, không nên bó sát vào da. Chất liệu nên thấm mồ hôi, thông khí. Đặc biệt, quần áo lót nên dùng những sản phẩm chất liệu cotton. Về hình thức của áo có thể lựa chọn theo sở thích của từng người.

Mùa hè, có thể mặc váy không bó eo, hoặc áo phía trên xếp li, dưới thả rộng. Chun quần cũng nới lỏng một chút cho thoải mái.

Quần của phụ nữ mang thai cũng không cần phải may mới, bởi vì chỉ dùng tạm thời trong vài tháng. Có thể chọn những chiếc quần cũ, sửa lại một chút là được.

Giày, dép nên mềm mại, vừa chân, thấm mồ hôi, những kiểu giày dép như vậy càng thích hợp cho những phụ nữ mang thai bị phù chân, đế giày thấp, bản rộng, vì phần bụng của phụ nữ mang thai phồng ra đằng trước, trọng tâm luôn ở phía trưóc nên đi giày cao gót sẽ gây cảm giác khó chịu, hơn nữa, nêu không cẩn thận rất dễ ngã do mất thăng bằng, thật không an toàn. Kì cuối thai nghén, mức độ phù chân của nhiều phụ nữ mang thai khác nhau, nên đi những đôi giày rộng hơn một chút. Lúc này lòng bàn chân chịu áp lực lớn, tạo thành hình phẳng, khiến chân rất dễ đau, mỏi, thậm chí bị chuột rút, có thể đệm bông dày 2~3cm ở phần lòng bàn chân để chân đỡ bị bẹt.

Không nên đi những đôi tất dài bằng nilon hoặc đàn hồi trong thời gian dài, bởi vì những loại tất này có thể gây trở ngại cho việc lưu thông máu từ tĩnh mạch chân tới tim, khiến phù chân càng trầm trọng.

Đối với áo ngực, nên chọn loại có dây chun co dãn tốt, phần mút lót ngực mềm mại, có chức năng “nâng đỡ” tốt, nên mặc rộng hơn một số. Bởi vì áo ngực quá chật sẽ gây trở ngại cho sự phát triển của tuyến sữa, ảnh hưỏng tới việc cho bé bú sau này.

Nhìn chung, yêu cầu “đồ bầu” rộng rãi, mềm mại một chút. Tuy nhiên, có những thai nhi quá to, hay nước ối quá nhiều, hoặc ngôi thai ngược khiến cơ bụng phụ nữ mang thai dãn ra, bụng sụt xuống thấp, làm tăng gánh nặng cho xương sống, lúc này phụ nữ mang thai cần bó bụng. Dây bó bụng phải đảm bảo giữ được thành bụng, đỡ chắc tử cung, giảm bớt gánh nặng cho vùng eo phụ nữ mang thai, kiểu chống đỡ này cũng có lợi cho việc lưu thông máu ở chân. Nhưng khi sử dụng chú ý xem thao tác đã thỏa mãn hai điều sau chưa: Thứ nhất quấn hơi thấp một chút, để bụng dưới cao lên; Hai là, không được quấn quá chặt.

Vì sao phụ nữ mang thai không nên mặc quần áo quá chật?

Một số phụ nữ mang thai ghét “cái bụng quá khổ” của mình thưòng thích mặc quần áo bó sát vào ngưòi, hoặc chun quần, cúc áo gài rất chặt, thậm chí còn bó bụng lại, để nhằm che đậy sự biến đổi cơ thể. Kì thực, làm vậy không những không thể giấu được bụng, gây ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi, cơ thể phụ nữ mang thai cũng cảm thấy khó chịu, mà còn ảnh hưởng tới tuần hoàn máu ở chân, gây bệnh phồng tĩnh mạch.

  • Cùng với sự phát triển thai nhi, tử cung ngày một to ra, khiến bụng cũng ngày một phồng lên.
  • Để đảm bảo nhu cầu cho trẻ bú sau này, vú cũng ngày một đầy lên, ngoài ra, để hấp thu đủ oxi cần thiết cho cơ thể và thai nhi, phụ nữ mang thai tăng cường hô hấp, mà chủ yếu hô hấp bằng ngực, bởi vậy ngực của phụ nữ mang thai cũng to ra.
  • Dung lượng máu trong cơ thể phụ nữ mang thai tăng, cùng với đó hàm lượng natri và nước cũng tích tụ nhiều lên, một số phụ nữ từ tuần 30 trở đi xuất hiện hiện tượng phù chân với mức độ khác nhau.

Dựa theo những đặc điểm biến đổi ở trên, phụ nữ mang thai nên mặc quần áo rộng rãi thoáng mát, hình thức đơn giản, giữ ấm cơ thể, mang lại cảm giác thoải mái, khỏe khoắn, đồng thời có lợi cho sự phát triển của thai nhi. Đăc biệt, không nên mặc đồ lót quá chật.

Những điều phụ nữ mang thai cần chú ý khi đi giày dép

Rất nhiều phụ nữ thích đi giày cao gót, bởi vì giày cao gót khiến cơ thể cao lên, bù đắp sự thiếu hụt về chiều cao, còn tạo dáng đi uyển chuyển, rất đẹp mắt; Ngoài ra, những đôi giày cao gót có độ cao thích hợp (2~3cm), cấu tạo đế giày cũng rất phù hợp với chân người bình thường, như vậy có thể khiến chân không phải chịu áp lực nhiều, dù đứng lâu hay đi lại nhiều đều vẫn thoải mái. Những người bàn chân bẹt đi loại giày này còn có tác dụng chỉnh hình. Tuy nhiên, sau khi mang thai, cơ thể phụ nữ có những biến đổi, bụng ngày một to ra, thể trọng tăng dần, trọng tâm cơ thể hướng về phía trước, khi đứng hoặc đi dồn hết gánh nặng cho cơ bắp phần lưng eo và hai chân, lúc này không thích hợp với đi giày cao gót. Có thể chọn loại giày vải đế bằng, xăng đan đế mềm, ở nhà có thể đi dép lê. Những loại giày dép này mềm mại, có tính đàn hồi nhất định, mạng lại cảm giác thoải mái khi đi lại. Ngoài ra, sự hồi lưu tĩnh mạch chân của phụ nữ mang thai thường chịu ảnh hưởng nhất định, khi đứng lâu hoặc đi lại nhiều hai chân thường bị phù với mức độ khác nhau, do vậy, sau khi mang thai nên đi giày rộng hơn một số, thuận lợi cho việc tuần hoàn máu ở chân.

Trong quá trình mang thai, cơ thể mẹ và thai nhi có những biến đổi gì?

Những biến đổi cơ thể mẹ va thai nhi - Kích thước và trọng lượng thai nhi qua các tuần thai
Những biến đổi cơ thể mẹ va thai nhi – Kích thước và trọng lượng thai nhi qua các tuần thai

Tháng thứ 1 mang thai (1-4 tuần)

Những biến đổi cuat cơ thể mẹ va thai nhi từ tuần 1 đến tuần 12

Sự phát triển của thai nhi: Trứng thụ tinh có kích thước 0.2 mm (đại khái sau 7—11 ngày thụ tinh). Từ đó, phôi thai có liên quan tới máu thịt của cơ thể mẹ, dần đần lớn lên. Ở giai đoạn này, phôi thai còn được gọi là mầm thai. Kích thước của nó vừa đủ để mắt thường có thể nhìn thây, chiều dài khoảng 5mm – 1cm, trọng lượng khoảng 1g. Nhìn từ bề ngoài thấy rõ cơ thể được chia thành 2 phần, phần đầu và phần đuôi. Phần đầu rất to, chiếm một nửa cơ thể. Phần đầu liên quan trực tiếp tới cơ thể, phần đuôi dài, hình dạng rất giống với một con cá ngựa. Tứ chi bước đầu hình thành, song khó có thể nhận biết được. Hệ thống thần kinh ở não, tủy và cơ quan tuần hoàn máu về cơ bản đã xuất hiện. Cuối tuần thứ 2 sau khi trứng thụ tinh, tim bắt đầu hình thành, từ tuần thứ 3 trở đi bắt đầu đập. Gan cũng bắt đầu phát triển từ giai đoạn này. Mắt và mũi vẫn chưa có hình thù, song mồm và cằm đã xuất hiện. Cuống rốn để kết nối với cơ thể mẹ cũng bắt đầu phát triển từ giai đoạn này.

Sự biến đổi của cơ thể mẹ: Tháng thứ nhất mang thai là chỉ ngày đầu tiên của kì kinh nguyệt cuối cùng cho tới hết tuần thứ 4. Giai đoạn này, đa phần phụ nữ mang thai không cảm thấy mình đang có mang. Dù đi khám cũng không dễ biết chính xác. Tuy nhiên tới cuối tháng này, tử cung hơi căng ra, nhiệt độ cơ thể phụ nữ mang thai tăng lên một chút, có người còn bị cảm lạnh, cơ thể rã rời, phát nóng hoặc phát lạnh, mệt mỏi buồn ngủ, ngủ mê mệt. Có ngưòi còn buồn nôn, nôn mửa.

Những điều phụ nữ mang thai cần chú ý:

  • Tránh bị kích thích hoặc làm động tác mạnh, đề phòng sảy thai. Bởi vì, tình trạng của thai nhi khi ở vào giai đoạn ”mầm thai” thường không ổn định.
  • Không được uống thuốc bừa bãi, cũng không nên tiếp xúc với tia X.

Tháng thứ 2 mang thai (7-8 tuần)

Sự phát triển của thai nhi: Vào tháng thứ 2 mang thai, chiều dài của phôi thai khoảng 3cm, thể trọng khoảng 4g. Có thể phân biệt được hình dạng của tay, chân, mắt, tai, mồm. Tuy nhiên, xương còn mềm, có tính đàn hồi. Bộ phận nội tạng như dạ dày, ruột, gan cũng đã có quy mô bước đầu. Hệ thống thần kinh phát triển, não phát triển nhanh chóng. Nhìn hình dạng bên ngoài không thể phân biệt được là nam hay nữ. Trong khoang mang nước ối đã tích nước ối, dường như thai nhi bơi ở trong đó. Quan hệ giữa cơ thể mẹ và phôi thai ngày càng mật thiết. Lông tơ trong màng của tử cung liên tục sinh sôi nảy nỏ để chuẩn bị tạo nên nhau thai. Bộ phận cấu thành dây rốn cũng đã xuất hiện.

Sự biến đổi của cơ thể mẹ: Chậm kinh. Những phụ nữ có kinh nguyệt đều khi thấy chậm kinh sẽ đặt ra những nghi vấn cho mình. Tới bệnh viện khám, đa phần có thể xác định rõ đã mang thai. Lúc này, vú phụ nữ mang thai rất căng, hơi chạm vào áo ngực cũng cảm thấy đau đớn; Đầu vú và quầng vú thẫm lại; Tử cung to ra và mềm, bộ phận sinh dục ngoài ẩm.

Do tử cung ứ máu phình to, phụ nữ mang thai đi tiểu nhiều, phần eo có cảm giác bị chèn ép. Ngoài ra, còn xuất hiện những hiện tượng như: Cơ thể phát nóng, mệt mỏi, buồn nôn, nôn mửa, thói quen ăn uống thay đổi. Những thứ trước đây thích ăn bỗng chốc không cảm thấy ngon nữa, mà những thứ bình thường không thích lại ăn rất ngon miệng. Có một số người tâm tư không tốt, chẳng thích làm việc gì, thường lo lắng, bồn chồn bất an vì những chuyện rất nhỏ.

Những điều phụ nữ mang thai cần chú ý:

  • Bảo đảm tâm tư thoải mái.
  • Sinh hoạt theo quy luật.
  • Mặc dù buồn nôn, nôn mửa, không thích ăn nhưng vẫn phải cố gắng ăn để hấp thu đủ dinh dưdng cho cơ thể và thai nhi.
  • Tránh thể dục thể thao và những động tác mất nhiều sức, để đề phòng sảy thai.
  • Chú ý đề phòng bệnh truyền nhiễm như cảm lạnh, sồi,…

Những biến đổi của cơ thể mẹ và thai nhi từ tuần 12 đến tuần 40

Tháng thứ 3 mang thai (9-12 tuần)

Sự phát triển của thai nhi: Giai đoạn này, thai nhi dài khoảng 9cm, trọng lượng khoảng 20g. Xương bắt đầu cứng lên, hóa xương. Móng chân, móng tay đã xuất hiện. Đầu rất to, hình dạng của mặt đã bước đầu hình thành, song mắt vẫn nhắm chặt. Thân thể và chân dài ra rõ rệt. Tim đập cũng rõ hơn, gan, dạ dày, ruột phát triển mạnh. Thận cũng đang dần dần hoàn thiện, đã có ống dẫn tiểu, thai nhi có thể bài tiết lượng nhỏ. Bộ phận sinh dục ngoài bắt đầu phát triển, song, vẫn chưa thể phân biệt được là nam hay nữ. Chức năng bài tiết của bộ phận sinh dục trong ngày một phát triển. Dây rốn cũng đang dài ra, thai nhi có thể tự do chuyển động trong nước ối.

Sự biến đổi của cơ thể mẹ: Phản ứng mang thai có thể đạt tới cao trào, sau đó dần dần giảm. Tử cung của phụ nữ mang thai có kích cỡ bằng nắm đấm, ép vào bàng quang và trực tràng, khiến số lần đi tiểu tăng, ngoài ra còn có hiện tượng táo bón. Do tuần hoàn máu trong xương chậu tăng nhanh nên khí hư ra nhiều.

Những điều phụ nữ mang thai cần chú ý:

  • Tránh làm việc quá sức, chú ý tĩnh dưỡng. Tránh những hoạt động ảnh hưởng tới bụng, hạn chế lên, xuống cầu thang.
  • Trong công việc, tùy sức mà làm, không nên miễn cưỡng làm những việc khó.
  • Đi khám thai định kì.
  • Ngừng những bài tập thể dục mạnh, không đi du lịch xa.
  • Chú ý ăn uống có khoa học, để đủ dinh dưỡng.
  • Nếu thấy đau bụng dưới hoặc khí hư có màu vàng hoặc nâu nhạt, rất có thể sảy thai hoặc bị nhiễm khuẩn, kịp thời tới bệnh viện khám và chữa trị.

Tháng thứ 4 mang thai (13-16 tuần)

Sự phát triển của thai nhi: Khi được 4 tháng, chiều dài cơ thể thai nhi khoảng 16~18 cm, thể trọng khoảng 120g. Da có màu đỏ, đây là do tuần hoàn máu trong huyết quản diễn ra nhanh, nhìn thấy rõ màu đỏ qua làn da non nớt của thai nhi. Mặt da có một lớp lông tơ mềm, gọi là lông thai. Tuyến bã nhờn và tuyến mồ hôi của thai nhi bắt đầu phát huy tác dụng.

Tim thai đập nhanh, gấp đôi so với người lớn. Nội tạng đã hình thành. Trong ruột thai nhi đã có một loại chất màu xanh, tích tụ ngày một nhiều, đó là phân thai, chủ yếu là nước mật tiết ra từ túi thai. Thai nhi bài tiết nước tiểu vào trong nước ối. Tóc đã mọc trên đầu thai nhi.

Sự biến đổi của cơ thể mẹ: Đế cuống rốn đã hoàn toàn hình thành, “nền móng” của thai nhi đã vô cùng kiên cố, nguy cơ sảy thai giảm. Đế cuống rốn hình thành trong tử cung, có hình dạng đĩa tròn, là bộ phận dạng xốp, cung cấp dinh dưỡng và oxi tới thai-nhi thông qua dây rốn, cũng qua dây rốn bài tiết những chất thải ra ngoài, trở thành trung tâm sống của thai nhi. Tử cung to rõ rệt, giống đầu của một đứa trẻ, có thể sờ thấy rõ ở phần bụng dưới. Độ cao của đáy tử cung ở vào giữa tổ hợp xương mu và rốn (cuối tuần thớ 15). Lúc này, khí hư vẫn tiết ra nhiều, hiện tượng tiểu nhiều, táo bón, đau lưng vẫn xảy ra. Ngoài ra, phụ nữ mang thai còn có thể bị đau đầu, trĩ, phồng tĩnh mạch ở chân và bộ phận sinh dục ngoài.

Những điều phụ nữ mang thai cần chú ý:

  • Cần bổ sung đầy đủ dinh dưỡng. Hấp thu những loại thức ăn giàu protein mỡ thực vật, canxi, sắt, vitamin.
  • Vận động nhẹ nhàng để tăng cường thể lực, đặt nền móng vững chắc cho việc sinh đẻ sau này.

Tháng thứ 5 mang (17-20 tuần)

Sự phát triển của thai nhi: Thai nhi đã phát triển tương đối toàn diện, cơ thể dài khoảng 25 cm, thể trọng 250g, đầu chiếm 1/3 cơ thể. Mồm, mũi đã có hình dạng hoàn chỉnh. Toàn thân phủ đầy lông măng, đầu tóc, lông mày, móng tay đã đầy đủ, da đỏ tươi, mỡ dưới da bắt đầu dày lên. Lúc này, da không còn nhìn thấu được nữa. Cùng với sự phát triển mạnh của xương và bắp thịt, tứ chi cũng hoạt động mạnh hơn (phụ nữ mang thai có thể cảm thấy thai cử động). Nếu những phụ nữ có kinh nguyệt không đều hoặc không nhớ rõ kì kinh nguyệt cuối cùng thì có thể dựa vào lần cử động đầu tiên của thai để dự đoán ngày sinh. Tim thai đập ngày càng rõ, dùng ống nghe có thể nghe thấy tim đập. Hệ thống thần kinh tương đối phát triển, và đã bắt đầu có một số cảm giác.

Sự biến đổi của cơ thể mẹ: Bụng phụ nữ mang thai to ra. Nhìn chung, độ cao của đáy tử cung cách tổ hợp xương mu khoảng 15~18cm. Lúc này, vú căng hơn, phần mông tròn rõ rệt do tích tụ nhiều mỡ, trông có vẻ nặng nề, ăn uống tốt hơn, song thường cảm thấy tiêu hóa kém, nguyên nhân có thể là tử cung quá to đã ép chặt dạ dày, khiến vị trí dạ dày của phụ nữ mang thai thay đổi. Ngoài ra, ở giai đoạn này thai nhi dễ dàng hấp thu dinh dưỡng từ cơ thể mẹ nhất do vậy người mẹ dễ bị mắc bệnh thiếu máu do thiếu sắt.

Những điều phụ nữ mang thai cần chú ý:

  • Nên ăn ít, ăn thành nhiều bữa, cố gắng ăn nhiều thức án giàu nguyên tố sắt, để đề phòng bệnh thiếu máu do thiếu sắt.
  • Chú ý quan sát tình hình thai cử động.
  • Chăm sóc vú và núm vú từ giai đoạn này.

Tháng thứ 6 mang thai (21-24 tuần)

Sự phát triển của thai nhi: Chiều dài cơ thể của thai nhi khoảng 30cm, thể trọng khoảng 600~700g. Cơ thể dần dần cân đối, xương dần dần chắc, các khớp bắt đầu phát triển. Nếu chụp X quang có thể thấy rõ xương đầu, xương sườn, tứ chi. Bề mặt da bắt đầu xuất hiện mỡ. Nó có thể cung cấp chất dinh dưỡng cho da của thai nhi, đồng thời bảo vệ da, ngoài ra còn có tác dụng gây trơn khi đẻ, khiến thai có thể chui ra dễ dàng. Nước ối nhiều hơn, thai nhi hoạt động tích cực, vị trí thai cũng thay đổi.

Sự biến đổi của cơ thể mẹ: Tử cung to ra, bụng lồi ra rõ rệt, thể trọng cũng tăng nhiều. Cảm nhận rõ ràng nhịp tim đập và những cử động của thai, thậm chí đặt tay lên bụng, có thể sờ thấy thai nhi. Phần lưng eo có cảm giác nặng nề, đứng lên ngồi xuông phải dùng lực. Tuyến sữa phát triển. Có bà mẹ còn bị đau răng hoặc viêm khoang miệng.

Những điểu phụ nữ mang thai cần chú ý:

  • Định kì đi khám thai và kiểm tra sức khỏe của bản thân.
  • Thời kì này phụ mang thai dễ bị ngã, đi đứng, lên xuấng cầu thang, ngồi ghế cao phải hết sức cẩn thận.
  • Chú ý nghỉ ngơi, bảo đảm ngủ đủ thời gian.
  • Chuẩn bị đồ sơ sinh cần thiết.

Tháng thứ 7 mang thai (25-28 tuần)

Sự phát triển của thai nhi: Chiều dài cơ thể thai nhi khoảng 35cm, thể trọng khoảng 1000~1200g, xương và bắp thịt ngày càng phát triển, cử động mạnh lên, lúc này số lần thai cử động tăng rõ. Mặt thai nhi xuất hiện nhiều nếp nhăn, trông giống một cụ già. Toàn thân bao phủ lông măng. Mắt đã có thể mở, lỗ mũi cũng đã thông. Do mỡ dưới da còn ít, thai nhi vẫn chưa mập. Tinh hoàn của bé trai vẫn chưa xuống, song âm môi của bé nữ đã xuất hiện. Não phát triển rất nhanh. Tim, gan, thận đều phát triển thấy rõ, khí quản và phổi vẫn chưa hoàn thiện. Nếu sinh vào lúc này, dù đã có thể hô hấp và khóc, song rất khó sống sót.

Sự biến đổi của cơ thể mẹ: Bụng to trông thấy, thậm chí căng tức vùng bụng trên, tư thế nghiêng về phía trước, độ cao của đáy tử cung ở trên rốn. Phụ nữ mang thai cảm thấy bụng rất nặng. Xuất hiện nhiều nếp gấp trên bụng. Tử cung to ra, ép vào tĩnh mạch khoang chậu, khiến hiện tượng phồng tĩnh mạch càng nghiêm trọng. Do trọng tâm cơ thể ở phía trước, khi đi lại phải ưỡn ngực, dần dần khiến lưng và eo bị đau. Tăng thêm trọng trách cho tim và thận, có người còn bị phù nề, huyết áp cao, nước tiểu nhiều anbumin.

Những điều phụ nữ mang thai cần chú ý:

  • Tới bệnh viện kiểm tra mức độ thiếu máu.
  • Uống sữa, mật ong và nước mỗi sáng hàng ngày, đồng thời ăn nhiều hoa quả và rau giàu vitamin.
  • Giảm bớt số lần lên xuống cầu thang.
  • Phụ nữ mang thai có hiện tượng phồng tĩnh mạch chân, không nên đứng lâu, khi ngủ kê chân cao một chút, để giúp tĩnh mạch lưu thông.

Tháng thứ 8 mang thai (29-32 tuần)

Sự phát triển của thai nhi: Chiều dài cơ thể thai nhi đã đạt 40cm, thể trọng khoảng 1500~1700g. Lông măng trên cơ thể đã giảm bớt, da bắt đầu có màu đỏ nhạt, mỡ dưới da dày lên, nhưng nếp nhăn vẫn còn nhiều. Ruột, phổi, thận tương đối hoàn thiện. Thính giác cũng phát triển gần hoàn chỉnh, thai nhi có thể nghe thấy âm thanh và có phản ứng lại. Tinh hoàn của bé trai bắt đầu xuống thấp. Lượng nước ối vẫn tiếp tục tăng. Thai nhi phát triển nhanh, dựa sát vào tử cung phía trước, vị trí tương đối ổn định, do đầu vẫn khá nặng nên hướng xuống dưới.

Sự biến đổi của cơ thể mẹ: Bụng càng ngày càng to, tử cung xuống thấp. Trọng lượng phụ nữ mang thai rất nặng, đi lại khó khăn. Tim tăng thêm trọng trách, vì vậy thường xuất hiện trạng thái hoang mang, lo lắng, thở gấp… Ngoài những nếp nhăn ở bụng, có người còn xuất hiện những vết nám trên da, chủ yếu ở những nơi gây “mất thẩm mỹ” như tai, trán.

Những điều phụ nữ mang thai cần chú ý:

  • Khám thai đều đặn không nên xem nhẹ.
  • Đề phòng đẻ sớm. Tránh làm việc quá sức, miễn cưỡng hoặc những việc khiến tử cung thu nhỏ, chú ý quan sát xem âm đạo có chảy máu không.
  • Phụ nữ mang thai mắc hội chứng huyêt áp cao thai nghén, cần chú ý không nên ăn quá nhiều muối, bảo đảm ngủ và nghỉ ngơi đủ.
  • Chú ý dinh dưỡng.

Tháng thứ 9 mang thai (33-36 tuần)

Sự phát triển của thai nhi: Chiều dài cơ thể thai nhi tháng này khoảng 45~47cm, thể trọng khoảng 2500g. Lớp mỡ dưới da dày lên, cơ thể rõ ràng tròn trịa, nếp nhăn cũng giảm, da hồng hào, sức sống tràn đầy. Lớp lông măng trên cơ thể giảm đi. Lông trên bụng và mặt cũng đã biến mất. Cơ quan sinh dục về cơ bản đã hoàn thiện. Chức năng của phổi và dạ dày, ruột cũng rất phát triển, đã có thể hô hấp, hút sữa, nếu thai nhi sinh ra vào lúc này, vẫn có thể nuôi sống trong lồng kính.

Sự biến đổi của cơ thể mẹ: Tử cung ngày một to ra; đáy tử cung đã xuống rất thấp. Lúc này, phụ nữ mang thai luôn cảm thấy hồi hộp, thở liên tục, dạ dày căng đầy, giảm ham muốn ăn. Vì tử cung rất lớn nên đã ép vào bàng quang, khiến phụ nữ mang thai đi tiểu liên tục. Dịch bài tiết ra từ âm đạo tăng nhiều hơn so với trước, có người còn cảm thấy tử cung co bóp nhẹ, song  đây không hẳn là co bóp tử cung trước khi sinh.

Những điều phụ nữ mang thai cần chú ý:

  • Liên tục đi khám thai xem có biểu hiện khác thường không.
  • Ăn ít, ăn thành nhiều bữa.
  • Hàng ngày vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài sạch sẽ.
  • Có sự chuẩn bị tốt cho lúc sinh.

Tháng thứ 10 mang thai (37-40 tuần)

Sự phát triển của thai nhi: Chiều dài đã phát triển tối đa, dài khoảng 50cm, thể trọng khoảng 3kg, tóc dài khoảng 1~2cm. Nếp nhăn trên da về cơ bản đã hết, xương cứng, móng tay móng chân đã dài ra khỏi ngọn. Các cơ quan như tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu đã hoàn chỉnh. Cơ bắp phát triển, tràn đầy sức sống, phản xạ hô hấp mạnh, đã có thể khóc to. Đầu thai nhi đã vào khung chậu của cơ thể mẹ, thai cử động mạnh hơn trước.

Sự biến đổi của cơ thể mẹ: Lúc này đã sắp tới thời kì sinh nở, khung chậu xuống rất thấp, đáy tử cung cũng xuống thấp theo. Áp lực của dạ dày đã giảm bớt, ăn được nhiều hơn, song tử cung xuống thấp ép chặt bàng quang, số lần đi tiểu tăng, hơn nữa dịch bài tiết từ âm đạo cũng tăng, đó là vì để cổ tử cung luôn mềm mại, thuận lợi cho việc sinh đẻ.

Những điều phụ nữ mang thai cần chú ý:

  • Cứ một tuần đi khám thai một lần.
  • Tránh ở một mình, tốt nhất lúc nào cũng nên có ngưòi bên cạnh.
  • Cấm quan hệ tình dục.
  • Hấp thu đủ dinh dưõng, ngủ và nghỉ ngơi đủ để đảm bảo sức khỏe.
  • Không nên làm những động tác bất lợi cho cơ thể, tránh với tay tới chỗ cao hoặc ép vào bụng.
  • Tranh thủ tắm gội hàng ngày, để cơ thể luôn sạch sẽ, đặc biệt cần chú ý vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục ngoài.
  • Chuẩn bị tốt mọi mặt trước khi sinh.