Thực đơn dành cho trẻ 10 tháng tuổi

Trẻ khi được 10 tháng tuổi có thể được coi là đã cứng cáp hơn trước cũng như hoạt động nhiều hơn trước rất nhiều thế nên mẹ cần phải có một thực đơn dành  cho trẻ 10 tháng tuổi để trẻ có thể phát triển tốt hơn về chiều cao cân nặng cũng như trí não của trẻ. Trẻ 10 tháng tuổi vẫn chưa đủ 1 tuổi thế nên thực ăn chính của trẻ chính là sữa mẹ nhưng bên cạnh đó cũng cần bổ sung thêm để trẻ có thể phát triển một cách tốt nhất, các mẹ cùng tìm hiểu để có thể tạo cho trẻ một thực đơn hợp lý cho sự phát triển của trẻ.

Trẻ 10 tháng tuổi thì nên bổ sung những dưỡng chất nào?

    Đối với trẻ 10 tháng tuổi những dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ gồm 4 nhóm chất dinh dưỡng chính cơ bản là: chất bột đường, chất đạm, chất béo nhóm cuối cùng là vitamin và chất khoáng. Khi tìm hiểu về các dưỡng chất cần thiết dành cho trẻ thì mẹ sẽ dễ dàng tạo nên thực đơn dành cho trẻ 10 tháng tuổi.

Thực đơn dành cho trẻ 10 tháng tuổi
Thực đơn dành cho trẻ 10 tháng tuổi

Nhóm chất dinh dưỡng đầu tiên là chất bột đường đây là nhóm chất cung cấp năng lượng cho trẻ chiếm 60->65% trong tổng năng lượng khẩu phần. Chất bột đường còn có thể hỗ trở sự phát triển trí não, hệ thận kinh của trẻ. Điều hòa hoạt động cơ thể của trẻ cũng như cung cấp những chất xơ cần thiết cho cơ thể của trẻ. Chất bột đường có trong các loại ngũ cốc.

Nhóm chất dinh dưỡng tiếp theo chính là chất béo nhóm chất nay có tác dụng cung cấp nguồn dự trữ năng lượng giúp hấp thụ các loại vitamin tan trong dầu mỡ như vitamin A, D, E, K bên cạnh đó chât béo còn giúp cho sụ phất triển các tế bào não và hệ thần kinh của trẻ. Chất béo cò nhiều trong mỡ động vật và một số loại dầu có trong thực vật như bơ, lạc..v..v.

Nhóm chất thứ ba là chất đạm, chất đạm là nguyên liệu xây dựng lên các tế bào, cơ, xương, răng ..v..v trong cơ thể trẻ. Chất đảm còn có thể làm nguye liệu để tạo ra dịch tiêu hóa, men tiêu hóa, các hocmon trong cơ thể trẻ giúp điều hòa các hoạt động trong cơ thể và tao các kháng thể tốt giúp trẻ trảnh khỏi bệnh tật. Chất đạm có nhiều trong thịt, các, trứng, sữa, tôm, các loại đậu.

Nhóm dưỡng chất cuối cùng là vitamin và khoáng chất. Cơ thể trẻ 10 tháng tuổi cần trên 20 loại vitamin và khoáng chất cần thiết để hình thành và phát triển cơ thể của trẻ. Các loại vitamin thiết yếu cho trẻ đấy là vitamin A, D,C, các vitamin nhóm B và axit foric. Vitamin A giúp cho sự tăng trưởng cũng như phát triển cơ thể và xương của trẻ giữ cho niêm mạc trẻ được khỏe mạnh không nhiễm trùng. Vitamin D giúp cơ thể trẻ hấp thụ tốt canxi và phospho để hình thành và suy trì xương và răng được vững chắc. Vitamin C giúp bảo vệ cấu trúc của xương, răng, mạch máu và giúp mau lành vết thương. Các vitamin nhóm B giúp cơ thể trẻ tạo ra năng lượng từ thức ăn bảo vệ đường tiêu hóa cho trẻ. Axit folic cần cho sự phát triển và sinh trưởng của trẻ.  Những khoáng chất cần thiết cho trẻ 10 tháng tuổi là Canxi, sắt, kẽm và Iốt những khoáng chất này giúp trẻ tăng trưởng phát triển phòng bệnh thiếu máu ở trẻ giúp miễn dịch và chuyển hóa năng lượng để trẻ ăn ngon miệng cuối cùng là giúp cho trẻ phát triển trí não một cách tốt hơn.

Vậy với 4 nhóm dưỡng chất trên thì mẹ sẽ tạo nên một thực đơn dành cho trẻ 10 tháng tuổi với đầy đủ các dưỡng chất giúp cho sự tăng trưởng và phát triển khỏe mạnh của trẻ.

Thực đơn dành cho trẻ 10 tháng tuổi.

    Thực đơn dành cho trẻ 10 tháng tuổi thì mẹ cần phải chú trọng đến những dưỡng chất không thể thiếu để tạo nên một thực đơn phù hợp để trẻ có thể ăn uống và qua đó phát triển một cách tốt nhất. Đầu tiên là các mẹ cần chú ý đến những thực phẩm chứa các dưỡng chất cần thiết để qua đó chuẩn bị thực đơn. Mẹ cần thay đổi thực đơn trong các ngày liên tiếp để tránh sự nhàm chán dẫn đến trẻ không muốn ăn. Vậy nên mẹ sẽ nên chia ra từng nhóm ngày để tạo thực đơn ví dụ như cách một ngày mẹ sẽ thay đổi một thực đơn khác để trẻ có thể ăn uống một cách ngon miệng hơn. Ngoài bú mẹ thì trẻ sẽ chính là ăn bột vậy mẹ nên chọn các loại bột nào đầy đủ dưỡng chất để chế biến cho trẻ và cũng không quên bổ sung thêm rau củ và hoa quả để đầy đủ dưỡng chất cho trẻ. Sau đây sẽ là một thực đơn để các mẹ có thể dựa vào đấy tham khảo rồi tạo nên một thực đơn hoàn hảo phù hợp với trẻ. Nhưng mẹ cần phải lưu ý rằng tạo nên thực đơn dành cho trẻ 10 tháng tuổi thì cũng nên áp dụng thực đơn này đúng giờ tránh sai lệch để tạo một thói quen ăn uống lành mạnh cho trẻ từ bé.

Thực đơn dành cho trẻ 10 tháng tuổi
Thực đơn dành cho trẻ 10 tháng tuổi

Vậy qua những dưỡng chất cần thiết trên thì mẹ sẽ có thể dễ dàng tạo nên một thực đơn dành cho trẻ 10 tháng tuổi với đầy đủ dinh dưỡng để trẻ có thể phát triển một cách tốt hơn về thể chất cũng như trí não.

Trẻ biếng ăn và chậm tăng cân phải làm sao

Hiện nay nhiều bậc phụ huynh rất lo lắng về việc trẻ biếng ăn dẫn đến chậm tăng cân vậy phải làm sao để có thể khắc phục tình trạng biếng ăn này của trẻ các bậc phụ huynh cùng tìm hiểu về các cách giúp cải thiện tình trạng biếng ăn chậm tăng cân của trẻ.

Nguyên nhân khiến trẻ biếng ăn và chậm tăng cân

Trẻ biếng ăn hầu hết là do trước khi ăn bữa chính trẻ đã được ăn quà vặt hoặc uống sữa cũng khiến trẻ no và không muốn ăn bữa chính nữa vì thế mà trẻ sẽ trở nên lười ăn bữa chính theo cha mẹ thì đấy chính là biếng ăn. Vì quà vặt của trẻ có thể là bim bim, xúc xích,..v.v. đều là những thực phẩm không mang lại giá trị dinh dưỡng cao cho trẻ dẫn đến trẻ không hề tăng cân mà cân nặng còn giảm sút và chậm tăng cân trở lại.

Trẻ biếng ăn và chậm tăng cân phải làm sao
Trẻ biếng ăn và chậm tăng cân phải làm sao

Những điều sai lầm khi cho trẻ ăn

Nhiều phụ huynh thấy con mình biếng ăn và chậm tăng cân thì rất lo lắng và thường sai lầm rằng ép trẻ ăn bằng đủ mọi cách hay phương pháp nào chỉ cần trẻ có thể ăn được là được. Nhưng điều này hoàn toàn sai vì trẻ khi ăn do bị ép ăn tâm lý của trẻ bị ép buộc không hề muốn ăn thì có ăn bao nhiêu không hấp thụ được cũng bằng không. Ngoài ra nhiều phụ huynh thường ép trẻ ăn bằng cách cho trẻ xem điện thoại hoặc iPad hay đi rông và chơi những trò chơi điều này cũng không nên vì trẻ sẽ không hề tập trung ăn sẽ dẫn tới ảnh hưởng tới hệ tiêu hóa của trẻ.

Trẻ như thế nào là biếng ăn và chậm tăng cân.

Trẻ biếng ăn rất dễ nhận thấy đấy là mỗi bữa ăn trẻ thường trốn bữa và không muốn ăn cơm đây chỉ là biếng ăn tạm thời do trẻ đã ăn nhiều quà vặt trước đấy rồi nên trẻ không hề thấy đói và không thèm ăn. Chậm tăng cân thì phụ huynh nên theo dõi cân nặng cũng như chiều cao của con mình nếu trẻ dươi 24 tháng tuổi thì phụ huynh nên đo chiều cao và cân nặng mỗi tháng một lần còn nếu như trẻ trên 2 tuổi thì phụ huynh có thể đo chiều cao và cân nặng của con 2-3 tháng một lần và ghi vào một tờ giấy theo biểu đồ tăng trưởng của WHO nếu như chiều cao và cân nặng của trẻ có hướng đi lên thì trẻ đang phát triển bình thường còn nếu như nằm ngang là nhiều tháng không hề thay đổi thì trẻ đang chậm tăng cân. Cần thay đổi cách ăn uống của trẻ để có thể cải thiện tình trạng biếng ăn cũng như chậm tăng cân của trẻ tránh tình trạng này kéo dài thì trẻ sẽ trở thành suy dinh dưỡng. Phụ huynh có thể đo chiều cao và cân năng của con và so sánh với chuẩn tăng trưởng của WHO để biết con mình có bị suy dinh dưỡng không và tìm cách khắc phục.

Trẻ biếng ăn và chậm tăng cân phải làm sao
Trẻ biếng ăn và chậm tăng cân phải làm sao

 

Biện pháp giúp cải thiện trẻ biếng ăn và chậm tăng cân

Sau đây là những biện pháp để khắc phục trẻ biếng ăn và chậm tăng cân:

  • Điều đầu tiên phụ huynh cần lưu ý là tránh những sai lầm thường mắc phải khi cho con ăn.
  • Không để trẻ ăn bất cứ một thứ gì trước khi đến bữa ăn vì khi trẻ ăn vặt thì sẽ không thấy đói và sẽ không muốn ăn cơm dẫn tới biếng ăn cũng như chậm tăng cân.
  • Không ép trẻ ăn khi trẻ không muốn ăn nếu phụ huynh ép trẻ ăn thì càng làm trẻ trở nên chán ghét bữa ăn hơn.
  • Không nên cho trẻ ăn quá nhiều bữa trong một ngày vì trẻ chỉ cần ăn đúng ba bữa sáng trưa chiều tối là đã đủ dinh dưỡng cho trẻ rồi.
  • Đừng bắt trẻ ăn hết nguyên một bát cơm đầy vì thực tế trẻ đang còn bé nên lượng dinh dưỡng cần bổ xung không phải quá nhiều nếu đối với một trẻ 3 tuổi thì nửa bát cơm đã khiến trẻ đủ no rồi.
  • Nhiều phụ huynh thường do bận bịu quá nên không chú trọng được đến bữa ăn của trẻ món ăn không phong phú và nhiều ngày chỉ ăn một món sẽ khiến trẻ chán ăn vậy cần thay đổi món thường xuyên cho trẻ cũng như thực đơn dành cho trẻ nên đầy dủ dinh dưỡng hơn.
  • Hãy để trẻ tự đòi ăn vì khi đấy trẻ sẽ thực sự đói còn những lúc trẻ không muốn ăn thì thực tế có thể trẻ đã ăn vặt trước đấy rồi nên không thấy đói vậy nên phụ huynh nên kiên trì chờ trẻ đòi ăn thì mới nên cho trẻ ăn chứ không ép trẻ ăn vô tội vạ thì sẽ khiến trẻ biếng ăn và chậm tăng cân.
  • Trẻ con thường rất thích những gì nhiều màu sắc hoặc ngộ nghĩnh vậy nên khi chế biến thức ăn cho trẻ phụ huynh nên trang trí một cách bắt mắt để trẻ thích thú và sẽ ngoan ngoãn ăn hơn.

Trẻ chậm tăng cân thực tế là do trẻ biếng ăn gây nên, khi trẻ không bổ sung đủ lượng dinh dưỡng cần thiết thì trẻ sẽ bị sút cân cũng như chậm tăng cân. Chỉ cần phụ huynh có thể áp dụng đầy đủ những biến pháp giúp cải thiện trẻ biếng ăn và chậm tăng cân thì một khi trẻ chịu ăn thì lượng dinh dưỡng cần thiết của trẻ sẽ được bổ sung đầy đủ trẻ sẽ không còn chậm tăng cân nữa. Chúc các mẹ áp dụng thành công.

 

 

 

Những biện pháp và nguyên tắc nuôi dưỡng thai

Có rất nhiều biện pháp nuôi dưỡng thai, thường gặp nhất là:

Nuôi dưỡng thai bằng âm nhạc

Nuôi dưỡng thai bằng âm nhạc

Điều này có chức năng đặc biệt đối với trí lực thai nhi. Âm nhạc là mắt xích tạo dựng nên mối quan hệ thân thiết giữa người mẹ và thai nhi. Tiếng nhạc du dương, trầm bổng và cảm động đều có thể khiến người mẹ sảng khoái trong lòng, mang lại cảm giác yên bình cho thai nhi. Tiếng nhạc là một kích thích tích cực đối với sự phát triển tích cực của não thai nhi. Sinh lý học thần kinh cho rằng âm nhạc lành mạnh có thể kích thích những chất như men bài tiết và axetin cholin ở ngoài mẹ tương lai. Điều tiết lượng máu của người mẹ tương lai và thúc đẩy tế bào thần kinh hưng phấn, từ đó thay đổi tình trạng cung cấp máu tới cuống rốn, thúc đẩy thai nhi phát triển.

Nuôi dưỡng thai nhi bằng lời nói

Nuôi dưỡng thai bằng lời nói - Trò chuyện với thai nhi
Nuôi dưỡng thai bằng lời nói – Trò chuyện với thai nhi

Lời nói có thể kích thích sự phát triển tích cực của não thai nhi. Bố mẹ hãy thường xuyên trò chuyện với thai nhi bằng lời lẽ thân thiết, sinh động và hình tượng hóa, có thể kể chuyện, thuật lại nội dung một cuốn truyện tranh, cũng có thể nói với trẻ những sự việc vui vẻ trong cuộc sống thường ngày, để trẻ quen với giọng nói thân thương của bố mẹ, cảm nhận được tình yêu thương của bố mẹ, đón nhận những kích thích mà bố mẹ mang tới. Ngoài ra, trong giai đoạn cuối thai kì, do thai nhi đã có khả năng nghe và cảm nhận, sẽ có một số phản ứng đối với lời nói và hành động của bố mẹ, hơn nữa còn lưu lại trong kí ức tới lúc sinh ra.

Nuôi dưỡng thai bằng cử chỉ âu yếm vỗ về

Cùng với tiết tấu âm nhạc, những cử chỉ của người mẹ qua thành bụng truyền tới thai nhi như xoa nhẹ, ấn tay, vỗ nhẹ… có thể dẫn tới phản xạ có điều kiện ở thai nhi, kích thích tính tích cực hoạt động cuả thai nhi. Đây không chỉ là cách “giao lưu” mật thiết giữa mẹ và con, mà còn có lợi cho sự phát triển trí lực và tình cảm của thai nhi, hơn nữa sau khi sinh ra, động tác của trẻ nhanh nhẹn, biết đi tương đối sớm và vững. Nuôi dưỡng thai bằng cách này nên tiến hành vào buổi tối, từ 3-5 phút.

Nuôi dưỡng thai bằng văn học

Nuôi dưỡng thai bằng văn học - Đọc sách cho "con" nghe
Nuôi dưỡng thai bằng văn học – Đọc sách cho “con” nghe

Đọc những tác phẩm văn học nổi tiếng, đặc biệt là những câu chuyện ngụ ngôn, truyện ngắn, truyện cổ tích, thơ, tiểu thuyết ngắn. Song, cần chú ý không nên đọc quá lâu, khi độc không nên quá xúc động.Khi viết nhật ký nuôi dưỡng thai, tốt nhất viết ra những cảm xúc thật và cụ thể, mang giọng điệu văn học, miêu tả thật sinh động quá trình mang thai, dưỡng thai với bao vất vả, cực nhọc xen lẫn niềm sung sướng.

Nuôi dưỡng thai bằng sự tưởng tượng

Có nghĩa là gửi hi vọng vào tương lai, tưởng tượng mọi điều tốt đẹp về thai nhi, những cảnh đẹp nhìn thấy, tưởng tượng thấy đều dành cho thai nhi, làm vậy tinh thần thoải mái, máu lưu thông,, thai ổn định. Đầy ắp những tưởng tượng phong phú có thể điều tiết năng lượng trong cơ thể phụ nữ mang thai. Tăng cường tình cảm đối với thai nhi, cảm thấy tràn đầy niềm tin đối với cuộc sống.

Nuôi dưỡng thai bằng cảm xúc

Cơ thể khỏe mạnh, tâm hồn vui vẻ, tâm tư thoải mái có thể khiến thai nhi cảm giác an toàn, kích thích hệ thần kinh, các cơ quan cảm giác của thai nhi phát triển. Do vậy, phụ nữ mang thai cần duy trì tâm tư vui vẻ và trạng thái tình cảm tích cực, tránh những trạng thái như lo nghĩ, sốt ruột, căng thẳng là ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Bố mẹ hãy nuôi dưỡng thai nhi bằng những tình cảm yêu thương chân thành nhất của mình. Hát cho thai nhi nghe, trò chuyện cùng thai nhi bằng giọng điệu thân thiện, ấm áp, tràn đầy cảm xúc yêu thương.

Nuôi dưỡng thai bằng môi trường

Mặc dù thai nhi không nhìn thấy môi trường bên ngoài, song có thể nghe thấy âm thanh của môi trường bên ngoài, những ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực từ môi trường bên ngoài có thể truyền tới thai nhi qua cảm nhận của người mẹ. Do vậy chỗ ở của phụ nữ mang thai nên yên tĩnh, thoải mái, thoáng mát, ngoài ra phụ nữ mang thai còn cần thường xuyên ra ngoài đi bộ, tiếp xúc với tự nhiên, cố gắng làm phong phú tâm hồn thai nhi bằng những ảnh hưởng tích cực.

Nuôi dưỡng thai bằng thức ăn

Phụ nữ mang thai cần nghiên cứu thực đơn một cách hợp lý. Ăn uống đủ dinh dưỡng trong thời gian mang thai. Tức là đủ thành phần protein, vitamin, nguyên tố vi lượng, ngoài ra còn cần chú ý tới màu sắc, mùi vị, hương vị, hình dạng, chất lượng (khẩu vị). Những thức ăn như vậy vừa có thể đảm bảo đủ dinh dưỡng, vừa kích thích ham muốn ăn.

Ngoài ra còn nuôi dưỡng thai bằng vận động, nuôi dưỡng thai bằng mỹ học, nuôi dưỡng thai bằng chiếu sáng.

Nguyên tắc nuôi dưỡng thai

Nguyên tắc nuôi dưỡng thai vốn là chuẩn tắc mà con người buộc phải tuân thủ khi tiến hành dưỡng thai, nó vừa phản ánh quy luật khách quan của dưỡng thai, đồng thời còn là những khái quát và tổng kết từ kinh nghiệm thực tế từ xa xưa. Nó có tác dụng chỉ đạo vô cùng quan trọng đối với hoạt động dưỡng thai cụ thể xuyên suốt qúa trình nuôi dưỡng thai. Tự giác tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của việc dưỡng thai, là tiền đề bảo đảm dưỡng thai thành công.

  • Nguyên tắc tự giác: yêu cầu phụ nữ mang thai chủ động học tập và vận dụng phương pháp dưỡng thai dựa trên cơ sở xác định nghiêm túc ý nghĩa quan trọng của việc nuôi dưỡng thai, từ đó tiến hành dưỡng thai một cách có mục đích và kế hoạch.
  • Nguyên tắc mang tính kịp thời: Quá trình dưỡng thai mang tính trình tự không thể đảo lộn, do vậy, cần tiến hành việc dưỡng thai sớm và kịp thời. Nếu không, để lỡ thời cơ dưỡng thai tốt nhất, rồi mới chọn biện pháp thì khó mà bù đắp nổi. Nhìn chung, thời kì quan trọng nhất để nuôi dưỡng thai là từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 7.
  • Nguyên tắc mang tính khoa học: Đọc những tư liệu khoa học có liên quan như giáo dục học, tâm lý học, sinh lý học và ưu sinh học. Dựa theo quy luật cơ bản của quá trình nuôi dưỡng thai để lựa chọn biện pháp nuôi dưỡng thai thỏa đáng, giúp thai nhi phát triển thuận lợi hơn, khỏe mạnh hơn trong cơ thể mẹ.
  • Nguyên tắc mang tính cá biệt: Dựa theo tình hình cụ thể của bản thân phụ nữ mang thai và gia đình để chọn ra biện pháp thích hợp . Do khí chất, tính cách, trí lực, năng lực… ở mỗi phu nữ mang thai mỗi khác, nên chọn hướng đi và biện pháp dưỡng thai cũng khác nhau tương ứng. Ngoài ra , điều kiện kinh tế, bối cảnh văn hóa và niềm vui với cuộc sống cũng sẽ mang tới hàng loạt những ảnh hưởng đối với việc nuôi dưỡng thai. Tuân thủ nguyên tắc mang tính cá biệt có thể phát huy mặt mạnh, che giấu mặt yếu, thu được kết quả tương đối tốt.

Cần quan tâm tới tâm lý phụ nữ khi mang thai

Vì sao khi mang thai phải tăng cường điều tiết tâm lý?

Bổ sung "dinh dưỡng tâm lý" khi mang thai
Bổ sung “dinh dưỡng tâm lý” khi mang thai

Ai cũng hi vọng có con thông minh, đáng yêu, do vậy, sau khi phụ nữ mang thai ngoài tăng cường món ăn cho phụ nữ mang thai, mọi người còn nghĩ cách mua nhiều thực phẩm bổ dưỡng để đảm bảo nhu cầu sức khỏe của cả mẹ và bé, xong lại thường xem nhẹ việc cung cấp dinh dưỡng tâm lý – tâm tư ổn định vui vẻ cho phụ nữ mang thai

Khi mang thai sự biến đổi sinh lý trong cơ thể phụ nữ mang thai kéo theo những biến đổi về tâm lý, như thời kỳ đầu mang thai bị “nghén” dẫn tới hàng loạt hiện tượng như buồn nôn, nôn mửa, tâm tư rối loạn, không ít phụ nữ mang thai lo sợ lúc đau đẻ. Còn có những người sợ không sinh được con trai hay con gái như mong muốn, khiến vợ chồng cứ trách cứ lẫn nhau. Do vậy phụ nữ mang thai thường rơi vào trạng thái căng thẳng, tâm lý không ổn định, lo âu, bởi vậy, hơn lúc nào hết, phụ nữ trong thời kỳ mang thai khao khát được quan tâm chăm sóc. Họ không chỉ cần giải tỏa tâm lý căng thẳng không đáng có, mà còn cần sống trong môi trường vui vẻ, thoải mái. Do vậy, người chồng nên thường xuyên đi bộ, nghe nhạc, thưởng thức những bức tranh nghệ thuật cùng vợ. Phụ nữ mang thai không nên xem những phim truyền hình và phim điện ảnh rùng rợn, bi thương hoặc kích thích xấu để tránh mệt mỏi, bực bội trong lòng, như vậy mới có lợi cho sức khỏe về thể xác và tâm hồn của cả mẹ và con.

Ngược lại phụ nữ mang thai không được đáp ứng về tâm lý rất dễ phát sinh tâm tư tiêu cựcnhư lo âu, bất an, muộn phiền. Tâm tư không tốt càng làm phản ứng mang thai thêm trầm trọng, khiến phụ nữ mang thai không thiết ăn uống, ảnh hưởng tới việc hấp thu dinh dưỡng. Thậm chí còn làm thay đổi chức năng tuyến bài tiết trong cơ thể và thành phần máu làm tăng lượng chất hóa học có hại cho hệ thống thần kinh và tổ chức tâm huyết quản, hơn thế những chất hóa học này còn vào thai nhi qua cuống rốn, gây cho thai nhi cảm giác bất an, khiến số lần thai cử động tăng mạnh. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của thai nhi, sau khi được sinh ra, cơ thể sẽ yếu đuối, hay quấy khóc, lớn lên tâm tư thường bị kích động, năng lực tự kiểm soát kém, dễ mắc bệnh tật. Phụ nữ mang thai có tâm tư u uất trầm trọng còn dẫn tới dị tật ở thai nhi, thậm chí xảy thai. Tâm tư căng hẳng là nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh sứt môi, hở hàm ếch ở tre.

Có thể thấy ngoài việc cugn cấp đủ dinh dưỡng vật chất phong phú ra, còn cần cung cấp nhiều “dinh dưỡng tâm lý” cho phụ nữ mang thai.

Khi mang thai, tâm tư không tốt ảnh hưởng tới thai nhi như thế nào?

Tâm lý phụ nữ mang thai không tốt ảnh hưởng tới thai nhi như thế nào
Tâm lý phụ nữ mang thai không tốt ảnh hưởng tới thai nhi như thế nào

Bà mẹ vui vẻ hay lo lắng, có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi, sự lo lắng bất an, hoảng hốt kéo dài còn có thể hình thành nên tính cách không ổn định ở trẻ sau khi sinh ra. Tuần mang thai từ thứ 7-10, phụ nữ mang thai quá lo lắng dễ dẫn tới sảy thai. Để đảm bảo sinh ra một đứa bé khỏe mạnh, hoạt bát, thông minh, người mẹ nên đảm bảo tâm tư vui vẻ và tinh thần thoải mái trong suốt thời gian mang thai, tránh có tâm tư tiêu cực như bi thương, u uất…

  • Nên cởi mở cõi lòng, lạc quan yêu đời, tránh đau khổ, lo âu và căng thẳng
  • Tạo môi trường sống phong phú, đẹp đẽ. Thường xuyên dã ngoại hít thở không khí trong lành, ngắm cảnh sắc thiên nhiên, thưởng thức tác phẩm nghệ thuật, ngắm chậu cây cảnh.
  • Ăn uống sinh hoạt quy củ, nghỉ ngơi đúng giờ, lao động và rèn luyện thể thao hợp lý. Ăn mặc gọn gàng, luôn tươi tắn đều rất có lợi cho sức khỏe bản than và thai nhi
  • Thường nghe những ca khúc hay, đọc truyện cổ tích…Không nên xem tivi, phim ảnh, băng đĩa hoặc tiểu thuyết kích động gay cấn tình cảm lâm ly…

Ngoài ra, người chồng nên hiểu khi mang thai, người vợ sẽ có những biến đổi tâm lý, sinh lý gì để từ đó tăng cường an ủi, động viên, quan tâm tới vợ nhiều hơn, tạo môi trường sống tốt đẹp, đây là món quà đầu tiên tốt nhất mà người bố dành cho con.

Chăm sóc giấc ngủ cho phụ nữ mang thai

Vì sao phụ nữ mang thai không nên ngủ trên giường trải đệm siêu mềm?

Phụ nữ mang thai không nên ngủ trên giường trải đệm siêu mềm
Phụ nữ mang thai không nên ngủ trên giường trải đệm siêu mềm

thế ngủ của con người thay đổi liên tục trong suốt một đêm, quay phải, quay trái, nằm ngửa, quay đi quay lại tới 20 lần, làm vậy giúp vỏ não giảm bớt ức chế, khiến giấc ngủ ngon hơn. Tuy nhiên giường có đệm siêu mềm sẽ khiến phụ nữ mang thai nằm “lún sâu” trong đó, khó có thể xoay mình, khi phụ nữ mang thai nằm ngửa, tử cung đồ sộ sẽ ép động mạch chủ của bụng và tĩnh mạch bụng dưới khiến máu cung cấp cho tử cung giảm, không tốt cho thai nhi. Tĩnh mạch bụng dưới chịu áp lực dẫn tới hiện tượng phồng tĩnh mạch ở chân, bộ phận sinh dục ngoài và trực tràng, có một số người vì vậy mà mắc bệnh trĩ. Khi nằm nghiêng sang phải, hiện tượng trên biến mất, nhưng thai nhi có thể ép ống dẫn tiểu phải, do hiện tượng kết tràng có quan hệ “láng giềng” với thận phải, nên tỷ lệ mắc bệnh viêm thận, bể thận tăng cao. Khi nằm nghiêng sang trái, hiện tượng này mặc dù hết nhưng tim lại chịu áp lực, những thứ trong dạ dày không dễ dàng bài tiết theo đường ruột giống như nằm nghiêng bên phải. Tốt nhất phụ nữ mang thai nên liên tục thay đổi tư thế nằm nghiêng sang trái, nghiêng sang phải, song nằm trên giường trải nệm siêu mềm sẽ khó làm được như vậy.

Phụ nữ mang thai không nên ngủ trên giường trải đệm siêu mềm vì xương sống của phụ nữ mang thai to hơn phần lưng cong về phía trước lúc bình thường, khi nằm ngủ trên giường trải đệm siêu mềm, xương sống với hình vòng cung sẽ khiến các khớp nhỏ ở sống lưng vốn đã cong về phía trước ma sát nhiều hơn. Khi nằm nghiêng, xương sống cũng cong theo mặt nghiêng. Cứ thế lâu dần sẽ khiến vị trí của xương sống di chuyển, chèn lên thần kinh, tăng gánh nặng cho cơ lưng, vừa không thể giảm bớt mệt mỏi lại còn gây bất lợi cho việc phát huy chức năng sinh lý, đau lưng là biểu hiện thường gặp nhất.

Đệm dày khoảng 9cm trải trên giường gỗ, gối mềm với độ cao phù hợp sẽ thích hợp nhất cho phụ nữ mang thai, như vậy đảm bảo có lợi cho cả mẹ và con.

Khi mang thai nên chọn tư thế ngủ thế nào?

Tư thế ngủ đúng có thể khiến giấc ngủ sâu hơn, giảm bớt mệt mỏi trong ngày, đảm bảo sức lực dồi dào để bắt đầu vào ngày làm việc, học tập kế tiếp. Ngủ đúng tư thế càng có ý nghĩa quan trọng đối với phụ nữ mang thai. Nó có mối liên quan tới sức khỏe, nghỉ ngơi an toàn của cả người mẹ và thai nhi.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia, tư thế ngủ thích hợp nhất cho phụ nữ mang thai là nằm nghiêng sang trái, đặc biệt từ tháng mang thai thứ 7 trở đi, nhất định phải nằm nghiêng sang trái. Vì sao không thể chọn tư thế ngủ khác? Đó là vì phía sau của phụ nữ mang thai là động mạch và tĩnh mạch to (y học gọi đó là động mạch chủ vùng bụng và tĩnh mạch bụng dưới). Những huyết quản lớn này hướng lên trên là tới tim, hướng xuống dưới là chân và bộ phận sinh dục ngoài, chúng vận chuyển máu từ tim tới khắp các bộ phận của cơ thể, rồi lại đưa máu từ khắp nơi trở về tim. Nếu phụ nữa mang thai nằm ngửa, tử cung “đồ sộ” có thể ép động mạch chủ vùng bụng và tĩnh mạch bụng dưới. Động mạch chủ vùng bụng bị ép khiến lượng máu cung cấp cho tử cung và cuống rốn giảm rõ rệt, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của thai nhi. Tĩnh mạch bụng dưới bị ép, có thể khiến máu ở chân và bụng dưới không thể nhanh chóng quay trở về tim, gây ra hiện tượng phồng tĩnh mạch, phù thũng ở chân và bộ phận sinh dục ngoài. Phụ nữ mang thai còn có thể xuất hiện các triệu chứng như choáng váng, tức ngực, buồn nôn, nôn mửa, huyết áp giảm,… thậm chí còn gây nguy hại lớn hơn cho phụ nữ mang thai và thai nhi.

Vậy sao không chọn tư thế ngủ nằm nghiêng sang phải? Nếu phụ nữ mang thai nằm nghiêng sang phải, tử cung to lớn của phụ nữ mang thai có thể chèn ép các cơ quan khác trong bụng. Sau khi kết tràng chữ S ở bụng dưới bị chèn ép, tử cung có thể xoay chuyển sang phải với các mức độ khác nhau khiến dây chằng và màng liên kết (có tác dụng duy trì vị trí bình thường của tử cung) ở vào trạng thái cấp bách. Huyết quản nuôi dưỡng tử cung trong màng liên kết bị kéo dài, sẽ ảnh hưởng tới việc cung cấp oxi cho thai nhi, khiến thai nhi thiếu oxi theo kiểu “từ từ”. Do vậy, tư thế nằm nghiêng sang trái có thể giúp tử cung trở về tư thế thẳng của mình (tử cung lệch sang phải khi mang thai), giảm bớt sự khác thường của vị trí thai hoặc khó khăn lúc sinh do tử cung lệch phải gây ra.

Phụ nữ mang thai chọn tư thế nằm nghiêng sang trái còn có thể phòng và chống hội chứng huyết áp cao thai nghén. Bởi vì nằm nghiêng sang trái có thể tránh áp lực tử cung lên thận, khiến thận duy trì đủ máu, đảm bảo hoạt động tốt, giảm bớt 3 bệnh lớn: huyết áp cao, phù thũng, tiểu abumin. Có người cho rằng chọn tư thế nằm ngửa ở giai đoạn cuối thai kì có thể khiến lượng máu ở thận và khả năng lọc của tiểu cầu thận thấp hơn 20% so với chọn tư thế nằm nghiêng. Nghiên cứu cho thấy khả năng mắc hội chứng huyết áp cao thai nghén ở những phụ nữ mang thai có xét nghiệm lật chuyển dương tính tương đối cao. Xét nghiệm lật chuyển được tiến hành như sau: Trước hết cho phụ nữ mang thai nằm nghiêng, cứ 5 phút đo huyết áp 1 lần, đợi khi huyết áp ổn định đột ngột chuyển tư thế nằm ngửa, lúc này những người có áp lực tim tăng lên 2000Pa thì gọi là xét nghiệm lật chuyển dương tính.

Ngoài ra, vị trí nằm nghiêng sang trái còn có lợi cho việc bài tiết những chất độc sau khi sinh, tránh tử cung tụt về phía sau do nằm ngửa lâu ngày gây ra, dẫn tới bệnh đau lưng sau này.

Phụ nữ mang thai ngủ nghiêng sang trái có những lợi ích gì?

Phụ nữ mang thai nên ngủ nghiêng sang trái
Phụ nữ mang thai nên ngủ nghiêng sang trái

Sau khi mang thai, thai nhi trong tử cung người mẹ ngày một lớn lên, khiến tử cung bình thường chỉ bé bằng quả lê dần trở thành 1 quả dưa hấu (khi mang thai đủ tháng), tăng gấp 6 lần so với khi chưa mang thai. Cùng với sự phát triển của tử cung, rõ ràng tư thế ngủ của bà mẹ cũng ngày càng quan trọng, đặc biệt là vào giai đoạn cuối thai kỳ (tháng thứ 7-9). Các chuyên gia cho rằng, phụ nữ mang thai nên chọn tư thế ngủ nghiêng sang trái là tốt nhất. Trong khi mang thai, đặc biệt là giai đoạn cuối của thai kỳ, phụ nữ mang thai chọn tư thế nằm nghiêng sang trái có 4 ưu điểm sau:

  • Có thể giảm bớt áp lực của tử cung lên động mạch chủ và động mạch xương chậu, từ đó duy trì lượng máu cần thiết cho động mạch tử cung, đảm bảo cung cấp đủ máu cho thai nhi, cũng như cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho thai nhi.
  • Có thể giảm bớt áp lực của tử cung lên tĩnh mạch bụng dưới, tăng lượng máu chảy về tim. Do vậy vừa có thể khiến lượng máu ở thận tăng, lượng nước tiểu tăng, mà còn có thể cải thiện được tình hình cung cấp máu tới tổ chức não, điều này vô cùng có lợi cho phụ nữ mang thai trong việc đẩy lùi hoặc phòng chống hội chứng huyết áp cao thai nghén, có thể làm giảm phù thũng, tránh không bị chuột rút.
  • Khi mang thai tử cung bị lệch về bên phải, do vậy nằm nghiêng về bên trái có thể cải thiện được mức độ lệch, giảm bớt sự giãn nở của huyết quản tử cung, khôi phục lại tư thế thẳng đứng của huyết quản, do vậy đảm bảo đủ lượng máu cho cuống rốn.
  • Nằm nghiêng sang trái có thể tăng lưu lượng máu của cuống rốn, do vậy có thể cải thiện được tình hình cung cấp oxi cho thai nhi trong tử cung, có lợi cho sự phát triển của thai nhi, giảm bớt tỷ lệ sinh trẻ thiếu cân hoặc tử vong khi sinh. Đặc biệt chọn tư thế nằm nghiêng sang trái vô cùng có hiệu quả đối với thai nhi phát triển chậm.

Vì sao phụ nữ mang thai không nên nằm thảm nhiệt điện?

Trước đây nhận thức của con người về vấn đề này chỉ dừng lại ở giai đoạn đầu. Một số nhà khoa học quan sát thấy trong số những bà mẹ sinh ra trẻ khuyết tật, có không ít bà mẹ thích nằm thảm nhiệt điện, những người sống gần đường dây cao áp thường xuyên thấy đau đầu, tinh thần mệt mỏi, lượng sữa tiết ra từ những con bò cái thường ăn cỏ dưới đường dây cao áp cũng giảm, bê con sinh ra có hiện tượng dị tật. Các nhà khoa học cho rằng, khi con người sử dụng thảm nhiệt điện, do giữa cơ thể và thảm nhiệt điện đều tồn tại điện dung nên dù thảm nhiệt điện có đặt tiêu chuẩn tới đâu, cũng đều sinh ra điện áp cảm ứng, gây ảnh hưởng tới cơ thể người.

Điện áp cảm ứng giữa cơ thể người và thảm nhiệt điện có thể đạt tới 40-70V, hơn nữa sinh ra cường độ dòng điện 15uA. Dòng điện này dù nhỏ nhưng do thảm nhiệt điện áp chặt vào lưng phụ nữ mang thai, bởi vậy có thể gây nguy hại tiềm ẩn đối với thai nhi khi đang ở giai đoạn phát triển.

Vì sao phụ nữ mang thai cần duy trì giấc ngủ trưa?

Phụ nữ mang thai nên duy trì giấc ngủ trưa
Phụ nữ mang thai nên duy trì giấc ngủ trưa

Thời gian ngủ của phụ nữ mang thai nên nhiều hơn một chút so với lúc chưa mang thai, nếu bình thường ngủ khoảng 8 tiếng thì khi mang thai ngủ khoảng 9 tiếng. Tăng thời gian ngủ tốt nhất nên vào buổi trưa, dù là mùa xuân, mùa hạ, mùa thu hay mùa đông, ăn trưa xong một lúc cũng nên nằm xuống ngủ một giấc thoải mái.

Thời gian ngủ trưa tùy thuộc và từng người, tùy thuộc vào từng lúc, miễn sao cho thoải mái là được, nửa tiếng đến một tiếng, thậm chí có thể kéo dài hơn. Bình thường nếu cảm thấy cơ thể mệt mỏi, cũng có thể nằm xuống nghỉ ngơi một chút.

Tư thế và động tác đúng trong thời gian mang thai

Thời kì đầu mang thai, dễ bị sảy thai là do cuống rốn chưa phát triển hoàn thiện. Bởi vậy, cần chú ý tránh chèn ép vùng bụng. Cùng  với sự phát triển của thai nhi ở kì giữa và kì cuối thai ki, bụng bà mẹ ngày một to ra, trọng tâm của cơ thể rõ ràng biến đổi, tăng gánh nặng cho sống lưng và cơ bắp vùng lưng, dễ dẫn tới mỏi mệt, đau lưng, mang tới nỗi thống khổ cho phụ nữ mang thai. Do vậy, phụ nữ mang thai cần duy trì tư thế đúng đắn.

Tư thế và động tác đúng khi mang thai
Tư thế và động tác đúng khi mang thai

1.Tư thế đứng

Khi đứng, thẳng người, đầu ngẩng, mông và cơ bắp vùng bụng thu gọn lại, như vậy có thể đảm bảo xương chậu không bị lệch, thai nhi cũng có thể duy trì vị trí của mình. Đồng thời, hai chân khép lại sẽ khiến trọng tâm ở gần lòng bàn chân, làm vậy đỡ mỏi mệt. Nếu phải đứng trong thời gian dài, vài phút thay đổi vị trí chân một lần để giảm bớt mệt mỏi.

2.Tư thế đi

Rất nhiều phụ nữ mang thai đi với tư thế khom lưng hoặc ưỡn ngực quá mức, như vậy là sai tư thế. Tư thế đúng là, ngẩng đầu, lưng, cổ thẳng, thu gọn mông, làm vậy bụng có vẻ cao lên, đi với tư thê toàn thân thăng bằng. Khi đi, bước nhẹ nhàng từng bước một, bước này nốì tiếp bước kia.

3.Tư thế ngồi

Ngồi trên ghế lưng thẳng, không ngồi ở thành ghế kẻo trơn ngã. Lưng, mông sát với cho tựa lưng của ghế, toàn thân thả lỏng. Không nên ngồi “phịch” một cái xuống ghế, kẻo bị ngã do ghế kê không chắc. Khi ngồi xuống phải nhẹ nhàng, lúc đứng dậy, lưng vươn ra trước rồi mới đứng hai chân lên. Nếu phải ngồi lâu thấy mỏi, cũng có thể chọn tư thế quỳ gối, thẳng lưng.

4.Tư thế lên, xuống cầu thang

Khi lên, xuống cầu thang không nên khom lưng hoặc ưỡn ngực quá mức, cần thẳng lưng. Khi leo cầu thang, mũi chân chạm đất trước rồi mới đặt cả chân, leo cẩn thận từng bậc một, chú ý kẻo ngã. Tới giai đoạn cuối của thai kì, càng hết sức cẩn thận vì lúc này bụng lồi ra đã chắn mất tầm nhìn, không còn nhìn thấy chân nữa, nêu cầu thang có tay vịn, thì nên vịn.

5.Tư thế ngồi dậy

Khi đang nằm ngửa trên giường, muốn ngồi dậy thì trước hết chuyển sang nằm nghiêng, rồi dậy  từ từ. Tránh sử dụng trực tiếp cơ bụng để ngồi dậy.

6.Tư thế lấy đồ vật

Khi lấy đồ vật ở dưới đất, cần đảm bảo tư thế lưng thẳng để các khớp xương hông cong lại, ngồi xổm hoặc một chân quỳ xuống, dựa sát vào đồ vật cần lấy, sau đó duỗi đầu gối rồi cầm lên. Tức là cong gối trước. Ngồi xuống sau, ngồi xổm rồi mới lấy. Hết sức tránh chèn ép vùng bụng, không nên chọn tư thế nghiêng người lấy mà không quỳ gối, làm vậy rất dễ bị đau lưng.

7.Tư thế là quần áo

Khi là quần áo, chân cùng phía với tay, không cầm bàn là chếch ra đằng trước hoặc bên ngoài  một bước, xoay chuyển lưng để là.

Tóm lại, trong suốt thời gian mang thai cần đặc biệt chú ý tới mọi động tác trong cuộc sống hàng ngày, bảo đảm tư thế có thể đúng đắn, những bà mẹ trẻ lần đầu mang thai, tốt nhất nên luyện tập những tư thế và động tác này trước khi mang thai

Phụ nữ mang thai liệu có sinh ra trẻ bị dị tật không?

Có một số người, gồm cả phụ nữ mang thai, bị dị ứng sau khi ăn tôm tươi, động vật nhuyễn thể, baba, trứng gà, sữa đậu nành, nấm, sữa bò,…toàn thân mẩm ngứa, khó chịu, hơn nữa nổi mụn giống như lên sởi, mụn đỏ, mụn nước. Có khi kèm theo buồn nôn, nôn mửa, thậm chí đau bụng đi ngoài, tuy nhiên người bệnh lại không phải mắc bệnh, y học gọi đó là mẫn cảm với thức ăn. Mụn sởi và mụn do dị ứng thức ăn gây ra về hình thức là giống nhau, song bản chất lại khác nhau, bởi vậy các bà mẹ không nên quá lo lắng khi thấy mình nổi mụn do dị ứng thức ăn, lo sợ chúng sẽ ảnh hưởng tới thai nhi trong bụng. Lo lắng như vậy là thừa.

Dị ứng khi mang thai có thể sinh ra trẻ bị dị tật không
Dị ứng khi mang thai có thể sinh ra trẻ bị dị tật không

Chúng ta cùng làm rõ một chút, dị ứng thức ăn xảy ra thế nào? Trước hết, điều mọi người băn khoăn là, vì sao đa số phụ nữ mang thai không bị dị ứng thức ăn mà một số ít lại có hiện tượng này? Điều đó có liên quan tới nhân tố trên hai phương diện trong và ngoài. Xét nhân tố từ bên ngoài, những thức ăn kể trên đa phần là thức ăn từ động vật giàu protein, vốn có thể gây dị ứng cho cơ thể. Thông thường, sở dĩ không xảy ra hiện tượng dị ứng thức ăn là do dưới tác dụng của các loại men tiêu hóa được bài tiết từ hệ thống tiêu hóa của cơ thể, chủ yếu là men phân giải protein, thức ăn mà chúng ta ăn được phân giải thành axit amin phân tử nhỏ, sau đó lại được hấp thụ. Mà những phân tử nhỏ không có khả năng gây ra phản ứng mẫn cảm – tính kháng nguyên, do đó sẽ không xảy ra hiện tượng dị ứng thức ăn. Xét nhân tố từ bên trong cơ thể, một số người thể chất vốn mẫn cảm, hệ thống tiêu hóa bị trục trặc ở khâu nào đó, ví như tổ chức tổ chức thượng bì của đường ruột bị tổn thương nhỏ hoặc bị viêm nhiễm, lúc này lượng men phân giải protein tiết ra không đủ, do vậy thức ăn chứa nhiều protein đã không được phân giải và hấp thu đầy đủ, khiến hình thành nên một số chất đại phân tử, như quá nhiều peptit. Lúc này, nếu tổ chức thành ruột bị tổn thương, và có thiếu sót sẽ khiến những chất dạng này chui vào những lỗ hổng, từ đó vào máu. Do những đại phân tử này quá lớn, mà khi đã đạt tới một mức độ nào đó sẽ  sinh ra tính kháng nguyên, cũng chính là kích thích cơ thể người sản sinh ra đặc tính kháng thể khác thường tương ứng. Đây vốn là một cơ chế bảo vệ của cơ thể, có lợi cho cơ thể con người. Tuy nhiên, khi lượng kháng nguyên vượt quá lượng kháng thể của con người, hoặc phản ứng kháng thể kháng nguyên xảy ra quá mãnh liệt khác thường thì có thể gây ra phản ứng miễn dịch bệnh lý, tức là phản ứng mẫn cảm hoặc phản ứng biến thái. Kết quả là, sẽ giải phóng các loại chất hoạt tính sinh vật như hixtamin. Từ đó kích thích cơ xương bằng thu nhỏ, huyết quản lông tơ giãn ra, tính thẩm thấu tăng, đồng thời còn khiến tuyến thể bài tiết nhiều hơn. Phản ứng mẫn cảm (dị ứng) xảy ra ở da, khiến da nổi mụn, mẩn đỏ, ảnh hưởng tới hệ thống tiêu hóa, gây buồn nôn, nôn mửa, đi ngoài. Đây chẳng qua là vị trí xảy ra dị ứng khác nhau mà thôi. Do vậy chỉ khi thức ăn được phân giải đầy đủ qua hệ thống tiêu hóa của cơ thể thành nhưững phân tử nhỏ, sau đó hấp thu thì mới không xảy ra hiện tượng dị ứng thức ăn.

Từ đó có thể thấy, mụn do dị ứng thức ăn và mụn sởi là hai bệnh hoàn toàn khác nhau. Mụn sởi là bị nhiễm khuẩn sinh ra, có thể gây hại cho thai nhi qua cuống rốn. Còn mụn do dị ứng thức ăn chỉ là một phản ứng biến thái, không ảnh hưởng tới sự phát triển và sức khở của thai nhi. Hiện nay trên thế giới chưa có tư liệu nào cho thấy phụ nữ mang thai bị dị ứng thức ăn khiến thai nhi dị tật.

Nói về cách phóng chống dị ứng thức ăn, trước hết phải tìm hiểu rõ bản thân bị dị ứng với loại thức ăn nào. Nếu là thức ăn đắt đỏ như ba ba, thì phụ nữ mang thai có thể không nên ăn. Nếu là thức ăn bình thường như sữa bò, sữa đậu nành, trứng gà… có thể chọn cách hâm nóng để tiêu diệt kháng nguyên, nhiệt độ cao có thể khiến protein biến tính, giảm bớt một phần tác dụng gây dị ứng của kháng nguyên. Sau khi sinh có thể chọn biện pháp giảm dị ứng, bằng cách ăn một lượng nhỏ sau đó tăng dần lên để tăng sức chịu đựng cho cơ thể, từng bước hình thành tính chịu đựng cho cơ thể. Ngoài ra có thể tăng cường chất chống dị ứng cho cơ thể, bằng cách ăn nhiều thực phẩm có hàm lượng vitamin C, B1, B2 phong phú, có thể điều tiết tính thẩm thấu của huyết quản lông tơ, giảm bớt hiện tượng dị ứng. Do có quá nhiều nhân tố ảnh hưởng tới phản ứng mẫn cảm (dị ứng), một số người có thể tạm thời ngừng ăn thức ăn dễ gây dị ứng, sau một thời gian, những kháng thể có liên quan sẽ dần dần bị bài tiết ra ngoài, hơn nữa chức năng của hệ thống tiêu hóa được cải thiện trở lại, lúc này lại ăn những thức ăn đó sẽ không bị dị ứng nữa.

Một số lưu ý ăn uống trong khi mang thai

Thịt thỏ

Có người cho rằng, khi mang thai, phụ nữ không nên ăn thịt thỏ, bởi vì ăn thịt thỏ thì nhất định sẽ sinh ra trẻ “sứt môi”. Điều này không có cơ sở khoa học. Y học gọi “sứt môi” là hở hàm ếch, bệnh này là do người mẹ bị ảnh hưởng bởi một nhân tố nào đó khiến trẻ bị dị tật, mà không hề liên quan gì tới thịt thỏ.

Thịt thỏ có đặc điểm: nhiều protein, ít mỡ, cholesteron thấp. Nó chứa khoảng 21.5% protein, nhiều hơn gấp đôi thịt lợn, hơn 18.7% thịt bò, gần gấp đôi thịt dê, hơn 33% thịt gà. Mỡ trong thịt thỏ khoảng 3.8%, bằng 1/16 lần mỡ trong thịt lợn, 1/15 so với thịt bò, 1/7 so với thịt dê. Hàm lượng cholesteron trong thịt thỏ thấp hơn mọi loại thịt. Thịt thỏ còn chứa nhiều dịch nhầy, nó không thể thiếu đối với sự phát

triển của não và các tể chức thần kinh khác ở người. Thịt thỏ non, tổ chức kết đế ít, chất xơ nhiều, dễ tiêu hóa hơn so với thịt lợn, thịt bò, thịt dê và thịt gà, thịt thỏ là một loại thịt thích hợp cho phụ nữ mang thai. Do vậy, phụ nữ mang thai có thể yên tâm ăn thịt thỏ.

Lưu ý ăn uống khi mang thai

Lẩu

Lẩu là một món ăn ngon được mọi ngưòi yêu thích, đặc biệt khi thời tiết se lạnh, bạn bè ngồi tụ tập quanh nồi lẩu vừa thưởng thức hương vị đậm đà của thức ăn vừa tán chuyện gẫu, quả là một kiểu hựởng thụ. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai cần hết sức chú ý khi ăn lẩu, đề phòng “họa từ nồi lẩu mà ra”

Trước hết, phụ nữ mang thai cần đề phòng sán toxoplasmosis, bởi vì nguyên liệu của nồi lẩu đa phần là thịt dê, thịt bò, thịt lợn sống. Trong những lát thịt sống này rất có thể ẩn chứa ấu trùng gây bệnh cong thể hình. Cong thể hình là một loại kí sinh trùng gây bệnh truyền nhiễm ở người, gia súc và gia cầm. Tỷ lệ truyền nhiễm cong thể hình ở dê là 61.4%, lợn là 20.6%, bò là 13.2%. Toxoplasmosis sống kí sinh trong tế bào động vật bị bệnh này, chúng ta không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Thói quen ăn lẩu của con người là nhúng những lát thịt tươi non vào trong nổi lẩu, chỉ cân tái là đã ăn được, mà trong thời gian ngắn ngủi như vậy, ấu trùng không thể bị giết chết. Nếu chúng ta ăn những lát thịt đã bị nhiễm bệnh vào người, Toxoplasmosis chưa bị giết chết này sẽ vào ruột, xuyên qua thành dạ dày, theo máu phân tán khắp cơ thể. Phụ nữ mang thai lại không cảm nhận thấy bệnh này, có khi chỉ biểu hiện như một kiểu cảm lạnh, song ấu trùng lại có thể qua cuống rốn truyền nhiễm sang thai nhi, trường hợp nặng còn dẫn tới sảy thai, chết lưu hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển não thai nhi, thai nhỉ có thể bị dị tật như đầu bé, đầu to (não tích nước), không có não, 60% thai nhi có thể mắc bệnh này. Ngoài chết lưu, dị hình hoặc dẫn tới hiện tượng sảy thai ra thì khoảng 70% thai nhi nhiễm bệnh khi sinh ra vẫn bình thường, song do tổ chức tế bào bị tổn thương, phải vài năm hoặc 10 năm sau mới phát bệnh, biểu hiện là trí lực chậm phát triển; cũng có thể bị mù do viêm màng mạch trong mắt.

Thứ 2 là, phụ nữ mang thai cần đề phòng trúng độc khí than. Khi ăn lẩu trong nhà thường xảy ra hiện tượng trúng độc khí than, kết quả là, bữa ăn còn chưa kết thúc đã thấy đau đầu, chóng mặt, ù tai, hoa mắt, tay chân rã rời, thậm chí buồn nôn, nôn mửa. Những triệu chứng kể trên, nhiều người cứ tưởng là trúng độc thức ăn. Kì thực, lại là trúng độc khí than ô-xit cacbon bốc ra từ than vào cơ thể người thì khả năng nó kết hợp với huyết sắc tố mạnh hơn 270~300 lần so với khả năng khí oxi kết hợp vói huyết sắc tố, hơn nữa không dễ phân giải sau khi kết hợp, từ đó khiến máu mất khả năng vận chuyển oxi. Khi trong không khí có khoảng 0.06% ô-xít cacbon thì con người chỉ cần thở trong 1 tiếng đồng hồ sẽ bị trúng độc; Nếu nồng độ đạt 0.32% thì chỉ cần 30 phút, con người đã bị hôn mê, thậm chí tử vong. Khi ăn lẩu, vừa ăn vừa trò chuyện, than liên tục được cho thêm vào lò, khi than vừa cho vào hoặc khi lửa gần tắt là lúc sản sinh ra nhiều ô-xít cacbon nhất. Do vậy, khi ăn lẩu bằng bếp than trong nhà, nhất định cần chú ý, sau khi bếp bốc cháy mới được đặt lên bàn, ngoài ra, không nên ăn quá lâu, mở cửa sổ cho khí thông thoáng.

Thứ 3, phụ nữ mang thai cần đề phòng trúng độc gỉ đồng. Nồi lẩu được chế tạo từ đồng vàng và đồng tím & một thời gian thường sinh ra một lớp gỉ đồng màu xanh gọi là màu xanh gỉ đồng. Thành phần chủ yếu của nó là đồng axit cacbonic mang tính kiềm, có độc. Nếu nồi lẩu có gỉ mà không được cọ sạch sẽ, gỉ đồng sẽ hòa lẫn vào thức ăn sau khi ăn thức ăn vào, cơ thể người sẽ bị trúng độc gỉ đồng xuất hiện triệu chứng buồn nôn, nôn, nghiêm trọng còn bị mất nước, cơ thể rã rời. Ngoài ra, bị gỉ đồng kích thích trực tiếp, còn có thể khiến khoang miệng, đường dẫn thức ăn niêm mạc dạ dày nóng bỏng, bục nát. Có người còn tiểu ra máu, thiếu máu, vàng da,… Khi thấy có triệu chứng trúng độc gỉ đồng, kịp thời tới bệnh viện ngay. Để phòng chống trúng độc gỉ đồng, cần cọ rửa sạch sẽ nồi lẩu trước khi sử dụng. Cho một chút muối ăn vào giẻ có tẩm dấm rồi cọ, hiệu quả càng tốt.

Thịt cá thơm ngon, được mọi người yêu thích. Vì sao vậy? Xét từ góc độ dinh dưỡng, thịt cá chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết.

Lưu ý ăn uống khi mang thai - Lợi ích khi ăn cá

Hàm lượng protein trong cá không chỉ nhiều (khoảng 15%~20%) mà còn rất chất lượng, hàm lượng axit amin cần thiết trong nó có giá trị sánh ngang với người. Bởi vậy protein trong các loại cá tốt hơn bất cứ loại thịt nào. Ngoài  ra, thịt cá mềm, được tạo thành từ các thớ thịt mảnh, giữa các thớ thịt có tương đối nhiều chất kết keo mang tính hòa tan, sau khi hấp thụ chỉ mất đi 10~30% lượng nước, ít hơn 20-40% so với các loại thịt khác. Do vậy, cơ thể người có thể tiêu hóa và hấp thu thịt cá dễ dàng, thông thưòng, tỉ lệ tiêu hóa hấp thu đạt tới 96%

Hàm lượng mỡ trong cá thấp, chỉ khoảng 1~3%, chỉ có một số loại cá đặc biệt có hàm lượng mỡ cao, như mỡ của cá thì chiếm tôi 17%. Tuy nhiên, mỡ của cá đa phần là axit béo không bão hòa, chiêm hơn 80%. Không chỉ dễ tiêu hóa, hấp thu so với mỡ của các loại thịt khác, hơn nữa kết cấu hóa học cá cũng khác với các loại thịt khác chuỗi cacbon của axit béo không bão hòa tương đôi dài, có tác dụng rất tốt trong việc làm giảm cholestẹron.

Lượng muối vô cơ trong cá phong phú, trong đó photpho và kali tương đối nhiều, ngoài ra còn có đồng, cá biển còn chứa iốt, cô ban, flu-or.  Canxi trong cá cũng nhiều hơn các loại thịt khác. Đặc biệt cá nhỏ rán giòn, ăn được cả đầu, hàm lượng canxi càng cao.

Vitamin trong cá cũng tương đối nhiều. Ngoài chứa một ít hàm lượng vitamin Bi, vitamin B2, vitamin B12, cá còn chứa tương đối nhiều vitamin hòa tan trong mỡ, đặc biệt là hàm lượng vitamin A, vitamin D vô cùng phong phú, đỉều này có lẽ không một loại thịt nằo có thể sánh bằng.

Ngoài ra, các nhà khoa học phát hiện thấy ăn nhiều cá, có thể làm thay đổi tình trạng cơ thể người mẹ không cung cấp đủ máu cho cuống rốn. Máu được đưa tới cuống rốn chủ yếu vào động mạch xoắn ốc xuất phát từ màng trong tử cung. Có khoảng 100-150 động mạch xoắn ốc phân bố trong cuống rốn. Cùng với sự phát triển ngày một to ra của cuống rốn theo tuần thai, động mạch xoắn ốc cũng rộng dần theo như vậy mới có thể đảm bảo cho việc hấp thu đầy đủ dinh dưỡng của thai nhi. Ngược lại, có thể khiến cuống rốn không được cung cấp đủ máu, thai nhi phát triển. Khi động mạch xoắn ốc bị tắc, bị thu hẹp mang tính bệnh lý hoặc khi tắc động mạch thì có thể khiến thai nhi không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, dẫn tới tử vong. Axit béo không bão hòa trong cá có hoạt tính của nhiều loại dược lý, có thể ức chế sự sinh sôi của chất thúc đông máu A2, khiến độ nhầy của máu giảm, chất chống máu đông tăng, những hoạt tính này có tác dụng phòng chống tắc động mạch. Axit béo không bão hòa còn có thể khiến huyết quản giãn ra, từ đó khiến tĩnh mạch xoắn ốc nở rộng, đủ để vận chuyển chết dinh dưõng cần thiết tới thai nhi, thúc đẩy thai nhi phát triển. Photpho và lượng lớn axit amin trong cá còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của hệ thống thần kinh trung ương của thai nhi.

Do vậy, có thể thấy rằng, phụ nữ mang thai ăn nhiều cá sẽ có lợi cho sự phát triển của thai nhi.

Rong biển

Rong biển là một loại tảo sống trong biển.

Lá của nó rộng 20~50cm, dài 2~7m, có hình dạng thân dài giông cây rong nên gọi là rong biển.

Rong biển có giá trị dinh dưỡng cao, cứ 100g rong bien khô có chứa 8.2g protein, 0.1g mỡ, 57g đường, sản sinh ra 260kg calo. Rong biển còn chứa rất nhiều muối vô cơ và vitamin. Đặc biệt, hàm lượng iốt trong rong biển rất cao, chiếm 0 3~0.7%, cao gấp 1 triệu lần so với nước biển. Thường xuyên ăn thức ăn có chứa iốt có lợi trong việc chữa trị những h viêm mãn tính, iốt còn là nguyên liệu chính hợp thành tố tuyến giáp trạng,  thường xuyên ăn rong biển có thể bổ sung iốt cho cơ thể mẹ, đề phòng trẻ mắc chứng đần độn.

Cua

Thịt cua tươi ngon, dinh dưỡng phong phú, hàm lượng protein và mỡ trong cua cao, các chất như canxi, photpho, sắt, vitamin cũng tương đối nhiều. Cứ 500g cua có chứa 49.6g protein 9.3g mỡ, 27.2g hydro cacbon, 1.088mg photpho, 33 6mg sắt và vitamin A. Cua vừa là thức ăn bổ dưỡng, lại rất ngon miệng, dễ ăn, được nhiều ngưòi ưa thích. Nhưng cua lại không thích hợp đối với phụ nữ mang thai.

Có nên ăn cua khi mang thai không
Có nên ăn cua khi mang thai không

Cua không chỉ là thức ăn, mà còn là thuốc. Chúng ta thường gặp, có cua đá, cua biển, cua hồ, cua sông, cua ngòi,… Đa phần cua được dùng làm thức ăn, cua sông được sử dụng làm thuốc nhiều nhất. Theo ngựời xưa, cua có thể chữa bệnh gẫy xương, tụ huyết và khó đẻ, thúc thai ra mau, tụ huyết sau khi sinh của phụ nữ mang thai. 50g càng cua, đổ nước, rượu vàng sắc lên, cho thêm a giao, là được thuốc thúc đẻ mau.

Do vậy, phụ nữ mang thai cần nhớ dược tính của cua, không nên ăn cua. Những phụ nữ mang thai hay bị sảy thai càng cần cấm kị.

Trà xanh

Có nên uống trà xanh khi mang thai không
Có nên uống trà xanh khi mang thai không

Có rất nhiều loại trà: trà xanh, trà mạn, trà lipton… mỗi loại có công dụng riêng. Tuy nhiên đối với phụ nữ mang thai, uống trà nảo có lợi cho cơ thể thì cần tìm hiểu.

Theo điều tra nghiên cứu, trà xanh có chứa nhiều vitamin C, nguyên tố kẽm, đặc biệt, hàm lượng kẽm trong trà xanh không một loại trà nào sánh bằng. Đã có thí nghiệm chứng minh, trong trà lipton và cà phê hầu như không chứa kẽm.

Kẽm là một trong những nguyên tố vi lượng không thể thiếu đối với cơ thể người. Kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy, hàm lượng kẽm trong cơ thể phụ nữ mang thai có liên quan trực tiếp tối sự phát triển của thai nhi. Nếu cơ thể phụ nữ mang thai thiếu kẽm thì nhất định sẽ khiến thai nhi chậm phát triển và có di tật bẩm sinh, đặc biệt dị tật ở hệ thống thần kinh trung ương  như phần đầu, xương sống. Phụ nữ mang thai thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng tới kết cục và toàn bộ quá trình mang thai, như cơ thể phụ nữ mang thai bị nhiễm bệnh, xuất huyết nhiều khi đẻ, thai nhi bị chèn ép, ra sớm hoặc chết lưu, sảy thai, hay mắc các bệnh như hội chứng huyết áp cao thai nghén… đều liên quan tới phụ nữ mang thai thiếu kẽm. Theo điều tra quan sát, những phụ nữ mang thai thiếu kẽm trong máu ỏ thời kì đầu mang thai và tiếp tục duy trì tình trạng này thì tỉ lệ mắc các bệnh sản khoa và thai nhi bị dị tật đạt 74%; Những phụ nữ mang thai được bổ sung kẽm, kẽm cân bằng trong cơ thể thì tỉ lệ mắc bệnh là 37%.

Phụ nữ mang thai cần hấp thu nhiều kẽm từ bữa ăn hàng ngày. Ngoài những thức ăn mang tính thực vật như vừng, ngô, lúa mì, đậu tương, lạc,… những thức ăn mang tính động vật như thịt bò, lợn, dê, đầu cá,… chứa nhiều kẽm được hấp thụ từ 3 bữa ăn hàng ngày ra thì có thể bổ sung thêm kẽm bằng cách uống trà xanh, đây là một cách lí tưởng.

Tóm lại, phu nữ mang thai nên có thói quen uống trà xanh, điều này không chỉ có lợi cho sức khỏe của bà mẹ mà còn giúp ích cho sự phát triển của thai nhi. Bởi vậy, 30 phút hoặc 1 tiếng sau bữa cơm, tốt nhất phụ nữ mang thai nên uống một cốc trà xanh.

Ăn kiêng

Một số phụ nữ mang thai trẻ tuổi, sợ béo khi mang thai, ảnh hưởng tới vẻ đẹp của cơ thể sau khi sinh, hoặc sợ thai nhi quá mập, phải mổ vì không đẻ thường được, nên đã ăn uống kiêng khem, ăn ít đi. Cách làm này hiển nhiên vô cùng có hại.

Sau khi mang thai, sự trao đểi chất diễn ra ở phụ nữ mang thai vô cùng mãnh liệt, cùng với đó là hàng loạt các thay đổi của những cơ quan và bộ máy có liên quan tới việc mang thai, túi dinh dưỡng của thai nhi – tử cung, tăng thêm 670g, ngoài ra còn cần dự trữ lượng mỡ 4500g, thai nhi nặng 3000~4000g, cuống rốn và nước ối nặng 900~1800g. Trong suốt quá trình mang thai, phụ nữ mang thai sẽ nặng hơn với trước khi mang thai khoảng 11kg. Vậy thì hãy nghĩ phụ nữ mang thai sẽ cần hấp thu bao nhiêu chất dinh dưỡng.

Phụ nữ mang thai cần dinh dưỡng, thai nhi cũng cần hấp thu dinh dưỡng từ cơ thể mẹ, vậy có nên ăn kiêng trong tình hình này không?

Không đủ dinh dưỡng sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng cho thai nhi, như thiếu protein sẽ ảnh hưởng tới sự sinh sôi nảy nở của tế bào thần kinh, khiến trí lực kém; Thiếu muối vô cơ, nguyên tố như canxi, photpho sẽ ảnh hưỗng tới sự phát triển của xương, răng, dẫn tới bệnh mềm xương; Thiếu vitamin, khả năng miễn dịch giảm, ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể, thậm chí có thể dẫn tới phát triển không toàn diện; Thiếu mỡ, nguồn năng lượng bổ sung cho tim, gan giảm rõ rệt, sẽ không chịu được những cơn co bóp tử cung khi sinh, sau khi sinh còn có thể xuất hiện triệu chứng đường huyết thấp và khó thở. Thiếu dinh dưỡng càng tăng thêm nguy hại đối với cơ thể phụ nữ mang thai, thiếu protein thì không thể thích ứng với sự biến đổi của tử cung, cuống rốn, tổ chức tuyến sữa, đặc biệt trong thời kì mang thai, lượng protein huyết tương giảm thấp, gây phù thũng, khiến sự hợp thành kháng thể giảm, bởi vậy khả năng miễn dịch kém, dẫn tới mắc nhiều bệnh. Thiếu canxi sẽ khiến xương mềm, lưng chân đau mỏi. Thiếu sắt, dẫn tới thiếu máu, đầu óc chóng váng. Thiếu vitamin A dễ đẻ non, thai chết lưu, ngoài ra sức đề kháng của cơ thế giảm sẽ dễ mắc bệnh truyền nhiễm sau khi sinh. Thiếu vitamin B1 sẽ ảnh hưởng tới ham muốn ăn và bài tiết sữa, ngoài ra, làm nặng thêm bệnh phù chân, dễ dẫn tới bệnh tê phù- Thiếu vitamin c, sẽ làm nặng thêm bệnh táo bón, thiếu máu và dễ dẫn tới sảy thai, đẻ sớm; Chất xơ và nước cũng không thể thiếu.

Từ đó có thể thấy, phụ nữ mang thai không thể tùy ý kiêng khem, nếu không sẽ dẫn tới thiếu một loại chất dinh dưỡng nào đó hoặc mất sự cân bằng giữa các chất dinh dưỡng. 5 tháng sau khi mang thai, mỗi ngày ít nhất cần 2700~2800 kg calo, có thể hấp thu từ trong bữa ăn. Cần bảo đảm đủ lượng protein (mỗi ngày hấp thu 85g, hơn 15g so với người bình thường), lượng mỡ, đường, canxi, sắt, vitamin thích hợp, ăn nhiều thịt gà, trứng, cá, thịt nạc, gan lợn và các loại sữa, các loại đậu, lượng thực, rau tươi, hoa quả và đồ biển. Phải lên thực đơn một cách hợp lý, không được lựa chọn món ăn, ăn thiên về một loại, như vậy mới có thể thỏa mãn nhu cầu trong thời kì mang thai.

Lo sợ đẻ khó mà ăn kiêng khem là đỉều trái với khoa học. Bởi lẽ, đẻ khó, đẻ ngược chủ yếu là do phản ứng thai nhi không tốt, khi qua đường sinh sản không thể quay mình một cách có phản xạ. Đẻ khó không phải do thai nhi quá to, mà là thần kinh phát triển không tốt gây ra.

Gia vị có tính nóng

Những gia vị như hồi, quế, hạt tiêu, ớt, ngũ vị hương,… đều là những hương liệu có tính nóng, không thích hợp cho phụ nữ mang thai. Khi mang thai, nhiệt độ cơ thể của phụ nữ mang thai tăng lên tương ứng, ruột cũng khá khô. Trong khi đó những gia vị nói trên có tính kích thích, rất dễ làm tiêu hao lượng nước ở đường ruột, khiến sự bài tiết giáp thể ở dạ dày giảm, dẫn tới bệnh táo bón, phân khô cứng. Khi ra hiện tượng như vậy, phụ nữ mang thai phai mất sức đại tiện, như vậy sẽ gây áp lực cho vùng bụng, ép chặt thai nhi trong tử cung, khiến thai nhi cử động bất an, thai nhi phát triển dị hình, màng ối rách sớm, tự khắc gây ra những hậu quả không tốt như sảy thai, đẻ non.

Ăn vặt

Trong khi mang thai, dạ dày của phụ nữ mang thai vô cùng mẫn cảm với các kích thích nóng, lạnh. Ăn nhiều đồ lạnh có thể khiến huyết quản dạ dày đột nhiên thu nhỏ, sự bài tiết dịch dạ dày giảm, chức năng tiêu hóa giảm, từ đó dẫn tới chán ăn, tiêu hóa kém, đau bụng đi ngoài, thậm chí da dày co giật, xuất hiện triệu chứng đau bụng kịch kiệt.

Niêm mạc đường hô hấp như mũi, họng, khí quản của phụ nữ mang thai thường ứ máu và nước, nếu ăn, uống quá nhiều đồ lạnh, huyết quản đang ứ máu đột nhiên thu nhỏ lại, máu sẽ giảm bớt, khiến sức đề kháng giảm, lúc này khuẩn và vi rút gây bệnh đang “phục” sẵn trong họng, khí quản, khoang mũi, khoang miệng “thừa cơ” xông vào, gây bệnh đau họng, ho, đau đầu, nghiêm trọng còn dẫn tới viêm nhiễm đường hô hấp, viêm amidan.

Có người phát hiện, thai nhi trong bụng cũng rất mẫn cảm đối với những kích thích lạnh, khi phụ nữ mang thai uống nước lạnh hoặc ăn đồ lạnh, thai nhi cũng sẽ bứt rứt không yên trong tử cung, cử động liên tục. Do vậy, phụ nữ mang thai nhất định cần hạn chế ăn đồ lạnh.

Đường đỏ

Sau khi mang thai, người mẹ phải đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cho cơ thể mình và thai nhi, đồng thời phải bài tiết chất thay thế cho cả hai người, do vậy, dung lượng máu tăng cao (tăng khoảng 50% khi mang thai ở tháng thứ 7-8), mà lượng hồng cầu lại tăng chậm, chỉ khoảng 20%, bởi vậy hàm lượng huyết sắc tố giảm thấp, điều này gọi là thiếu máu sinh lý trong thời gian mang thai. Để ngăn chặn tình trạng thiếu máu, nhất thiết cần bổ sung những thức ăn chứa nhiều sắt. Ngoài ra, thai nhi trong cơ thể mẹ cũng cần tạo máu, sự phát triển các cơ bắp đòi hỏi tiêu hao một ít sắt, gan thai nhi cũng cần dự trữ một phần sắt, để chuẩn bị cho sau khi sinh. Để phụ nữ mang thai và thai nhi khỏe mạnh, ngoài việc tăng cường protein và lượng calo ra, phụ nữ mang thai còn cần bổ sung đủ muối vô cơ như canxi, photpho, sắt. Đường đỏ không chỉ có thể cung cấp lượng calo mà hàm lượng canxi, sắt trong nó cũng rất phong phú, do vậy phụ nữ mang thai ăn đường đỏ với lượng thích hợp rất có ích.

Lượng canxi trong đưàng đỏ cao gấp 3 lần so với đường cát; Lượng sắt trong đường đỏ cao gấp 2 lần so với đường cát, gấp 3 lần so với đường tinh thể, mà canxi và sắt đều là chất dinh dưỡng cần thiết cho phụ nữ mang thai. Đường đỏ còn chứa carotin, vitamin B1… mà trong đường trắng không có, những chất này cũng đều là chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với phụ nữ mang thai.

Ngoài ra, đường đỏ còn có tác dụng ích khí, tiêu hóa tốt khỏe tì ấm vị,… có lợi cho sức khỏe.

Dầu thực vật

Hàm lượng axit béo trong dầu thực vật phong phú, đặc biệt là những axit béo cần thiết (axit linoleic, axit Arachidonic). Những axit béo cần thiết này không thể hợp thành trong cơ thể người, phải được hấp thu từ trong thức ăn. Chúng có chủ yếu trong đậu tương, dầu vừng, dầu lạc, dầu hạt quì.

Axít béo cần thiết là chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với cơ thể. Sự hình thành và trao đổi chất của tế bào da trong cơ thể không thể thiếu những axit béo này. Khi thiếu chúng sẽ khiến da khô ráp, dầy lên, lông mọc xơ xác. Axít ần thiết là nguyên ũệu hợp thành mõ photpho và tố tiền bệt tuyết nỏ còn c6 thể làm giảm lượng cholesteron trong máu, giảm hiện tượng xơ cứng động mạch. Trong thời gian mang thai nếu cơ thể mẹ thiếu axit béo cần thiết sẽ khiến trẻ thiếu cân.

Các nhà khoa học đã từng tiến hành điều tra đốì với 100 phụ nữ mang thai (56 người ở vùng đói nghèo, 44 người ở vùng sung túc), phát hiện thể trọng trẻ được sinh ra ở vùng đói nghèo đa phần thấp hơn 3000g, thậm chí có 9 trường hợp thấp hơn 2500g, những bà mẹ ở vùng này trong thời gian mang thai chỉ hấp thu 6.6g axit béo cần thiết mỗi ngày; Trong khi đó, những bà mẹ ở vùng sung túc, mỗi ngày hấp thu 12g axit béo, kết quả là, không có trường hợp nào trẻ được sinh ra thiếu cân.

Chuyên viên nghiên cứu Nhật Bản cho rằng, bổ sung axit béo cho cơ thể phụ nữ mang thai thì có thể đề phòng trẻ sinh ra thiếu cân, họ đã đo được nồng độ các loại axit béo trong máu cơ thể và trong máu cuống rôn của 70 phụ nữ mang thai, kết quả phát hiện thấy, nồng độ trong máu cuống rốn thấp hơn hẳn so với trong máu cơ thể. DHA và AA giữa mẹ và bé rõ ràng có liên quan tới HF, cho thây nồng độ axit béo trong máu cuông rốn quyết định ở nồng độ trong máu cơ thể mẹ.

Nhìn chung, mỗi ngày phụ nữ mang thai nên hấp thu 10~12g axit béo cần thiết. Axit béo sẽ qua cuống rốn tới thai nhi, vừa cấu thành màng tế bào, vừa giúp não thai nhi phát triển. Đồng thời, axit béo cần thiết còn có thể được chuyển hóa thành tố tiền liệt tuyến, khiến máu lưu thông trong cuống rốn, cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của thai nhi.

Mang thai không nên ăn nhiều muối

Không nên ăn mặn khi mang thai
Không nên ăn mặn khi mang thai

Có người cho rằng, trong thời kì mang thai, đặc biệt trong mấy tháng cuối, cấm không được ăn muối. Kì thực một chút muối không vấn đề gì, nếu có lời khuyên của bác sĩ hoặc gặp những tình trạng dưới đây thì mới không được ăn muối hoặc ăn ít muối:

  1. Khi mắc một số bệnh nào đó liên quan tới thai nghén (bệnh tim, thận), nhất thiết cấm ăn muối ngay từ lúc bắt đầu mang thai.
  2. Thể trọng tăng quá nhanh, đặc biệt, kèm theo đó là hiện tượng phù thũng, huyết áp tăng, người mắc hội chứng huyết áp cao thai nghén cũng không được ăn muối.

Cấm không ăn muối nghĩa là mỗi ngày không được ăn quá 1.5~2.0g natri clorua. Mỗi ngày hấp thu 8~15g natri clorua vào cơ thể, 1/3 trong số đó là do lương thực chính cung cấp, 1/3 là do muối ăn, 1/3 còn lại là từ thức ăn khác. Tất cả những thức ăn không có vị mặn có thể khiến phụ nữ mang thai dần dần quen với việc không ăn muối. Như nước  cà chua tươi, nước chanh ép, dấm, mù tạt không muối, rau thơm, tỏi, hành, hành tây, rau hẹ, đinh hương, đậu phụ,…

Những lưu ý ăn uống trong giai đoạn cuối thai kỳ

Giai đoạn cuối thai kì, thai nhi vẫn tiếp tục phát triển. Do vậy, phụ nữ mang thai vẫn phải đảm bảo lượng dinh dưỡng cần thiết. Chuyên gia cho rằng,ở giai đoạn cuối thai kì, phụ nữ mang thai nên đặc biệt chú ý 4 điểm sau:

  1. Chọn biện pháp ăn ít, ăn thành nhiều bữa. Càng gần ngày sinh thì càng cần hấp thu nhiều chất sắt hơn. Song lúc này dạ dày chịu áp lực của tử cung, một bữa ăn quá nhiều sẽ cảm thấy bụng căng tức, hơn nữa dễ bị táo bón hoặc đi ngoài. Bởi vậy, nên ăn thành nhiều bữa, một ngày ăn 4-5 bữa là thích hợp. Trọng điểm tập trung vào bữa trưa, thức ăn chính có thể giảm bớt, tăng cường thức ăn phụ giàu dinh dưỡng, nên ăn nhiều rau tươi, sản phẩm chế biến từ sữa, để đề phòng táo bón.
  2. Nên ăn nhạt một chút: Thức ăn cho phụ nữ mang thai ở kì cuối thai nghén nên nhạt một chút, giảm bớt muối và nước mắm, không nên ăn dưa muối, tương. Nếu cảm thấy không hợp khẩu vị, ăn không ngon miệng thì có thể cho một chút đường hoặc dấm vào thức ăn.
  3. Lên thực đơn hợp lý tùy theo tình hình thực tế của phụ nữ mang thai: Khi khám thai, phụ nữ mang thai có thể xin sự chỉ dẫn của bác sĩ, nắm rõ tình hình phát triển của thai (có tốt không, quá to hay quá nhỏ), đồng thời kết hợp với sức khỏe, mức độ công việc của bản thân, cũng như tình hình kinh tế gia đỉnh để lên thực đơn hợp lý.
  4. Giai đoạn cuối thai nghén dễ xuất hiện hội chứng huyết áp cao thai nghén và những bệnh khác có liên quan tới thai nghén. Cần điều chỉnh thức ăn dựa theo tính chất và mức độ của bệnh tình. Ví như, huyết áp tăng cao, phù thũng nặng, tiểu anbumin,… lập tức hạn chế hấp thu protein và muối. Lên “thực đơn ăn uống kết hợp trị bệnh” theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Những phương pháp điều trị chứng biếng ăn của trẻ

Phương pháp chường rốn

1- Sao thần khúc, sao mạch nha, tiêu sơn tra, mỗi thứ 10g, sao lai phục tử 6g, sao kê nội kim 5g. Tán mịn các thuốc trên, thêm 1-3g tinh bột, lấy nước trắng sôi hoà thành dạng hồ đặc, trước lúc ngủ bôi chườm vào rốn, rồi cố định lại bằng vải băng, sáng hôm sau thoá ra. Mỗi ngày 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Nếu bú sữa bị đầy, thêm trần bì 6g, tửu đại hoàng 5g, nếu tỳ thấp làm khốn trong, thêm bạch biển đậu, di nhân, mỗi thứ 20g, nếu tiêu thiên không đủ thêm nhân sâm 3g, can khương 5g, chích cam thảo 6g, nếu tỳ vị hư nhược, thêm đảng sâm, sơn dược, mỗi thứ l0g, bạch truật 6g, nếu nấc nôn oẹ, thêm bán hạ, hoắc hương, chỉ xác, mỗi thứ 6g, nếu đại tiện nhão nát, thêm thương truật l0g, kha tử 6g. Dùng cho chứng biếng ăn ở trẻ.

2- Chỉ xác, bạch truật, sa nhân, lượng bằng nhau, tán mịn dùng dần. Lấy nước trà hoà bột thuốc trên thành hoàn (viên) nhét vào rốn trẻ, bên ngoài lấy cao vạn ứng bôi lên. Thời gian chườm thuốc là giờ Dần (3-5 giờ), chườm liền 3 ngày, (nếu thấy da mọc mụn nước thì không được chườm). Nói chung một lần là có hiệu quả, khi cần có thể chườm liền 2 lần. Dùng cho chứng biếng ăn ở trẻ .

Điều trị bằng cách chườm rốn như thế nào đối với trẻ biếng ăn?
Điều trị bằng cách chườm rốn như thế nào đối với trẻ biếng ăn?

3- Đại hoàng, đại bạch, bạch khấu, tam tiêu (thần khúc, mạch nha, sơn tra), lương khương, trần bì, lượng bằng nhau. Thuốc trên tán bột sàng qua sàn 120 mắt. Dùng va-dơ- lin trộn thành dạng cao, dùng dần. Mỗi lần quyệt thuốc cao to bằng hạt sen vào băng dính 4,5mm X 4,5mm rồi dán đúng vào giữa rốn, 4 xung quanh dán chặt, mỗi lần bôi chườm 8-12 giờ mỗi ngày 1 lần, 10 ngày là 1 liệu trình nhiều nhất là 2 liệu trình. Dùng cho chứng biếng ăn ở trẻ .

4- Sinh hạt nhân, chi tử, tiểu hồng táo lượng bằng nhau. Lượng thuốc trên dùng cho nữ 7 hạt, nam 8 hạt, lấy 1 dúm gạo dính (gần giống gạo-nếp), chế thành thuốc cao, dán vào rốn. Dùng cho trẻ tích thực, bú mớm đầy bụng và chứng biếng ăn .

5- Sinh sơn tra 9g, trần bì, bạch truật mỗi thứ 6g. Tán mịn các thuốc trên, nhét vào rốn trẻ mắc bệnh, ngoài cố định bằng băng dính. Mỗi ngày thay thuốc 2 lần, liên tục 3-5 ngày. Dùng cho trẻ biếng ăn .

6- Sinh chi tử 9g, tán mịn, cho thêm bột mì, lòng trắng trứng, trộn đều làm thành 3 chiếc bánh, lần lượt chờm bôi vào quanh rốn hoặc 2 gan (lòng) bàn chân, ngoài lấy băng dính cố định. Thích hợp dùng cho chứng biếng ăn thực tích hoá nhiệt (tiện bí, đái vàng, mồm hôi) .

7- Ngũ bội tử (nướng vàng) 9g, thêm dấm vừa phải, quấy cho dính như cao, bôi quệt lên vải màn, chườm xung quanh rốn hoặc dán vào thóp (trên đầu), rồi cố định bằng băng dính. Thích hợp cho chứng biếng ăn dạng tỳ vị hư nhược .

Tắm nước thuốc

Gọi là điều trị bằng tắm nước thuốc là một phương pháp chỉ việc tắm rửa toàn thân hay một phần cơ thể bằng hơi bốc lên (xông hơi) và những thuốc (hoặc nước được ngâm tẩm thuốc) sau khi đã được đun sôi lên bằng các vị thuốc, để điều trị các bệnh tật. Dưới đây xin giới thiệu một vài phép điều trị chứng biếng ăn ở trẻ .

1-Liên kiều, quất bì mỗi thứ 30g, thô phục linh 20g. Gói thuốc trên vào vải màn, ngâm một thời gian vào trong lượng nước vừạ đủ, sau đó đun sắc thuốc và nước đó, sắc xong bỏ thuốc, lấy nước đố vào chậu tắm, chờ cho nước thuốc nguội bớt nóng tay thì tắm cho trẻ. Mỗi ngày một lần. Chú ý khi tắm phải giữ nước cho ấm để tránh cho trẻ khỏi bị cảm lạnh, chủ trị trẻ tiêu hoá kém nên biếng ăn .

Điều trị bằng tắm nước thuốc như thế nào đối với trẻ biếng ăn?
Điều trị bằng tắm nước thuốc như thế nào đối với trẻ biếng ăn?

2- Tân lang 2 phần, lương khương 1 phần, sắc lấy nước, chờ nước bớt nóng thì tắm cho trẻ. Ngày 1 lần. Chủ trị trẻ biếng ăn .

3- Hoắc hương, ngô thù du, sơn dược, xa tiền tử mỗi thứ 10g, mộc hương, đinh hương mỗi thứ 5g sắc thuốc trên lấy nước tắm rửa phần bụng của trẻ. Mỗi lần 15 phút, mỗi ngày 2 lần. Chủ trị trẻ biếng ăn .

4- Bạch truật, chỉ xác, đại hoàng, tân lang, bì tiêu lượng bằng nhau .Nghiền thô thuốc trên trộn đều. Mỗi lần dùng 50-100g, lấy nước sạch lượng vừa phải, sắc sôi 5 phút, đổ vào chậu tắm, lợi dụng nước còn nóng xông vào bụng cho trẻ. Sau khi nước bớt nóng, lấy khăn mặt chấm vào nước thuốc cọ rửa từ phần trên ngực xuống đến bụng dưới. Mỗi lần xông rửa 30 phút, mỗi ngày 2-3 lần. Dùng lại nước đó thì đun nóng lên là được. Dùng liền 2 lần. Có tác dụng kiện tỳ tiêu thực, rửa tẩy hoá tích chủ trị trẻ nhỏ biếng ăn, tích trệ có hiệu quả điều trị tốt .

Gối thuốc

Điều trị bằng gối thuốc là nghiền tán các vị thuốc có tác dụng sơ thông kinh lạc, lưu thông khí huyết phương hương khai khiếu, cường tráng bảo vệ sức khoẻ, rồi nhét nhồi vào gối làm thành gối thuốc, người bệnh sau khi gối lên, nhờ có tác dụng của thuốc vào tới kinh lạc, huyết quản, thần kinh mà đạt được mục đích phòng chống bệnh tật. Điều trị chứng biếng ăn ỏ trẻ bằng gối thuốc, có thể sử dụng một số loại phương gối thuốc được lựa chọn như dưới đây:

1- Tuỳ mật kiện vận: biểu hiện là cảm thấy thiếu mùi vị không muốn ăn uống, hoặc cự tuyệt bú mớm, ăn uống, hoặc ăn ít đã no, mặt vàng kém tươi hoặc bụng đầy tiện khô, lưỡi nhợt rêu trắng, mạch nhu. Điều trị nên kiện tỳ khai vị. Phương chọn cho gối là: gốì khai vị: kê nội kim 20g, tiêu tam tiên 45g, lai phục tử l00g, hậu phác, sơn tra, hoắc hương, bội lan mỗi thứ 50g. Sấy khô từng vị thuốc trên, tán nhỏ, trộn đều, nhồi vào lõi gối, làm thành gối thuốc, cho trẻ gối đầu vào gối. Chú ý cho trẻ hoạt động đùa nghịch nhiều .

Điều trị bằng gối thuốc như thế nào đối với trẻ biếng ăn?
Điều trị bằng gối thuốc như thế nào đối với trẻ biếng ăn?

2- Vị âm không đủ: biểu hiện là miệng khô họng táo, thích uống nhưng uống ít nước, không muốn ăn, hoặc chóng đói mà ăn ít đái vàng ỉa khô, da dẻ xù xì, lưỡi đỏ ít rêu, vân ngón tay tím đỏ, mạch xác. Điều trị nên dưỡng vị sinh tân. Phương chọn cho gối là: gối sinh tân dương vị: mạch đông, cát căn, sa sâm mỗi thứ 500g, thạch hộc, sa nhân, thái tử sâm, thiên hoa phấn mỗi thứ 200g, trầm hương l00g. Sấy khô từng vị thuốc trên, tán thô, trộn đều, nhồi vào lõi gối, làm thành gối thuốc cho trẻ gối đầu vào gối. Chú ý nằm nghiêng gối lên.

3- Tỳ vị hư hàn: biểu hiện là ăn không ngon, mới ăn đã no, ăn xong đầy bụng, vị quản không ấm, mệt mỏi mặt vàng, ỉa nhão, tứ chi hơi lạnh, lưỡi nhợt rêu trắng nhuận, mạch trì. Điều trị nên ôn bổ tỳ vị. Cấm uống đồ lạnh. Phương chọn cho gối thuốc là: Gối ôn dương giáng nghịch: Nhũ hương 500g Bầu khương 500g, Phụ tự 500g, Cao lương khương 200g, Trầm hương 200g, Hương phụ 200g, Lưu hoàng 400g, Sấy khô từng vị thuốc tán thô, trộn đều nhồi vào lõi gối, làm thành gối thuốc, cho trẻ gối đầu vào gối .

4-Gối cường chân bảo nguyên: Ba kích thiên 1000g Đại phụ tử 200g, Nhục quê 200g, Sấy khô từng vị thuốc, tán thô, trộn đều nhồi vào lõi gối, làm thành gối thuốc, cho trẻ gối đầu vào gối. Nếu bị chứng bệnh âm hư hoả vượng thì kiêng không dùng gối này .

Giác hơi

1- Lấy các huyệt trung quản, thiên khu, kiến lý, khí hải, tỳ du, vị du, túc tam lý. Dùng phép giác đơn thuần, hoặc phép giác kích thích lạc mạch, lưu giác 10- 15 phút, cách nhật làm 1 lần 5 lần là 1 liệu trình .

Điều trị bằng phép giác hơi như thế nào đối với trẻ mắc chứng biếng ăn
Điều trị bằng phép giác hơi như thế nào đối với trẻ mắc chứng biếng ăn

2- Trước hết dùng phép giác đốt nóng, giác lên huyệt thượng quản 10 phút, sau đó lấy kim mai hoa châm chích vào 2 bên cột sống cho chảy máu ra, đồng thời áp giác 10 phút vào các huyệt cách du, can du, vị du, có thể phối hợp với kim tăng lăng châm chích vào huyệt tứ phùng, túc tam lý, nội quan cho chảy máu ra, cách nhật làm 1 lần .

3- Trước hết tiến hành chuyến giác lên các huyệt giáp tích, tỳ du, vị du ở đốt 8-12 cột sống ngực phần lưng, làm cho da ứ máu tím bầm, rồi lại áp giác 5-10 phút vào các huyệt trung quản, quan nguyên, túc tam lý, cách nhật làm 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình .

Mát xa và xoa bóp

Trẻ mắc chứng biếng ăn có thể điều trị bằng mát- sa, xoa bóp, Phương pháp cụ thể như sau:

1- Bổ kinh-tỳ: tay trái nắm lấy tay trẻ, đồng thời dùng hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt lấy ngón cái của trẻ, làm nó hơi chúc xuống, lại lấy ngón cái của tay phải miết 100-300 lần từ đầu ngón cái đến chân ngón cái của trẻ.

Trẻ biếng ăn có thể điều trị bằng mát- sa, xoa bóp không?
Trẻ biếng ăn có thể điều trị bằng mát- sa, xoa bóp không?

2- Thanh kinh vị: Tay trái nắm lấy ngón cái của trẻ, lấy ngón tay phải miết từ đốt 2 đến đốt cuối của bụng ngón cái tay trẻ 100-300 lần .

3- Xoa túc tam lý: Đặt ngón cái vào chỗ lõm mặt ngoài cách phí dưới khớp gối của trẻ 3 tấc, xoa day 1-3 phút

4- Xoa trung quản: Đặt ngón cái vào chỗ trên rốn trẻ 3 tấc, xoa day 1-3 phút .

Véo bật sống lưng

Điều trị véo bật sống lưng trẻ mắc chứng biếng ăn có hiệu quả tương đối tốt. Thích hợp cho trẻ dưới 7 tuổi. Phép này giản tiện, không đau đớn, liệu trình ngắn.

Cách: cho trẻ nằm sấp hoặc người lớn bế, trước hết xoa bóp vài lượt ở vùng lưng, làm cho cơ bắp dãn ra, sau đá chụm 3 ngón cái, trỏ và giữa nắm lấy phần da 2 bên cột sống , tiến hành véo lật từ dưới lên trên, cứ véo ba cái lại bật (nhấc) lên 1 cái (gọi là phép 3 véo 1 bật) mỗi lần bật véo làm 10 lượt, 7 ngày là 1 liệu trình, cách 3-5 ngày lại làm liệu trình thứ 2, nói chung làm 2-3 liệu trình là có hiệu qủa rõ rệt .

Điều cần chú ý: Khi thao tác, véo bật bao nhiêu là đủ và dùng sức nên thế nào thì phải làm cho vừa phải, tay nên mềm mại, chớ làm tổn thương đến da, không được xoáy vặn mạnh. Khi véo bật dần lên phía trên, cần làm cho thắng, không được xiêu vẹo. Mỗi buổi chiều tốì làm 1 lần . Thường ngày nên chú ý gây dựng cho trẻ mắc bệnh có thói quen ăn uống theo quy định, đúng giờ .

Điều trị bằng cách véo bật sống lưng như thế nào đối với trẻ biếng ăn?
Điều trị bằng cách véo bật sống lưng như thế nào đối với trẻ biếng ăn?

Tham khảo thêm về lý luận: cột sống là thuộc mạch đốc, mạch đốc xuyên qua lưng thuộc kinh thận, thống nhiếp chân nguyên, đốc soái dương khí. Trẻ biếng ăn thời kỳ đầu phần lớn là bú mớm không điều độ, tích trên tổn thương đến tỳ, bị bệnh lâu ngày làm cho dinh vệ không điều hoà, khí huyết hư tổn, tỳ vị hư nhược, vận hoá không được bình thường .

Bất kể là hư hay thực đều có liên quan đến sự trở ngại cho vận hành khí. Phép điều trị bằng véo bật từ dưới lên trên có thể điều hoà âm dương, điều hoà khí huyết, hoà được tạng phủ và thông được kinh lạc, bồi dưỡng nguyên khí, mà ở lưng có rất nhiều du huyệt, véo bật 1 cách tương ứng  vào các du huyệt ở vùng lưng, có thể làm cho thân thể mạnh khoẻ, tăng thêm được hiệu quả điều trị .

Đeo đặt thuốc

1- Sa nhân, khấu nhân mỗi thứ 3g, sơn nại, cam tùng mỗi thứ 15g, hoắc hương, thương truật, mỗi thứ l0g, băng phiến 5g. Tán mịn 6 vị thuốc trên riêng rồi cho băng phiến vào tán đều, đựng vào túi vải . Ban ngày đeo ở trước ngực, ban đêm đặt ở cạnh gối, 15-30 ngày thay thuốc một lần. Thích hợp dùng cho trẻ nhỏ biếng ăn, đại tiện không điều hoà, có công hiệu táo thấp kiện tỳ trơ vận khai vị .

Điều trị bằng cách đeo đặt thuốc đối với trẻ biếng ăn như thế nào?
Điều trị bằng cách đeo đặt thuốc đối với trẻ biếng ăn như thế nào?

2- Thương truật, hương bạch chỉ, sơn nại, cam tùng, mỗi thứ l0g, sa nhân, khấu nhân, mỗi thứ 3g, bạc hà, băng phiến mỗi thứ 5g .

Tán mịn 7 vị thuốc trên riêng, rồi cho băng phiến vào tán đều, đựng váo túi vải, đeo ở trước ngực, khi đi ngủ đặt ở cạnh gối, 15-30 ngày thay thuốc một lần. Thích hợp dùng cho trẻ ăn ít người gầy yếu, dễ bị cảm cúm tháo dạ .

Bấm véo sống lưng

Cởi quần áo của trẻ ra, để lưng mông trần, nằm sấp ngay thẳng .Hai tay người thao tác nắm mím (không chặt), ngón tay trỏ đặt trên sống lưng, 2 ngón cái đặt lên trước ngón trỏ, hợp sức kẹp chặt lấy da lưng nhấc lên, sau đó làm động tác cuốn chiếu ngón trỏ tiến lên, ngón cái nhích lên theo, cứ thế hai tay thay nhau nhích lên. Bắt đầu từ huyệt trường cường, theo dọc 2 bên sống lưng-bấm véo dần cho đến huyệt đại chuỳ.

Điều trị bằng cách bấm véo sống lưng như thế nào đối với trẻ biếng ăn?
Điều trị bằng cách bấm véo sống lưng như thế nào đối với trẻ biếng ăn?

Làm như vậy 3-5 lượt, sau khi bấm véo lượt thứ 3, mỗi lần bấm vào da lại nhấc lên 2-3 cái, bấm véo xong, lấy ngón cái mát- xa, xoa bóp vào 2 bên huyệt thận du vài lần, một lần thao tác mất khoảng 1 phút. Mỗi ngày 1 lần, liên tục 6 ngày là 1 liệụ  trình. Thích hợp dùng cho trẻ mắc đủ mọi kiểu loại chứng biếng ăn . Cũng có thể hướng dẫn cho bố  mẹ cách véo này để thực hiện ở nhà đối với cháu mắc chứng biếng ăn. Không được dùng cách này đối với các cháu mắc bệnh mà phần da dẻ sống lưng đã bị lây nhiễm và có vết bầm tím (bệnh sưởi phát ban) .

Nhĩ châm

1- Lấy huyệt: tỳ, vị, tiểu trường .

2- Thao tác: dùng hạt vương bất lưu hành ấn bóp. Mỗi ngày ấn bóp 3-4 lần. Mỗi huyệt ấn bóp mỗi lần khoảng 2 phút, quyết định tuỳ theo sức chịu đựng của trẻ nhỏ. Hai tai thay đổi nhau. Cách 1-2 ngày thay một lần. 5 lần là một liệu trình .

Điều trị bằng cách chườm thuốc đối với trẻ biếng ăn như thế nào?

Có thể điều trị bằng nhĩ châm đối với trẻ biếng ăn không?
Có thể điều trị bằng nhĩ châm đối với trẻ biếng ăn không?

1- Phèn chua, dấm vừa đủ. Tán vụn phèn chua ra. Trộn với dấm làm thành dạng cao, chườm (bôi) và huyệt  dũng tuyền của hai chân. Mỗi ngày thay thuốc một lần đến khi khỏi bệnh thì thôi. Thích hợp với chứng biếng ăn dạng hư hàn của trẻ nhỏ .

2 Sinh chi tử, đinh hương, mỗi thứ 30 hạt, hạnh nhân 9g, bạch hồ tiêu 6g, trứng gà 1 quả, hành củ 7 nhánh, hà diệp, bột mì, rượu trắng lượng vừa đủ. Trộn thuốc trên với nhau rồi tán mịn, lấy rượu  trắng đốt, nướng, hoà trộn với lòng trắng trứng gà, lấy lá sen gói lại, chườm buộc vào huyệt dũng tuyền của hai chân, mỗi ngày 1 lần đên khi khỏi bệnh thì thôi. Thích hợp dùng cho trẻ nhỏ biếng ăn thực tích, khí trệ tích nhiệt .

Châm cứu

Thuốc Trung Y tuy có hiệu quả điều trị khá tốt đối với trẻ mắc chứng biếng ăn, song vì trẻ nhỏ đã biếng ăn lại biếng cả uống thuốc nữa, nên thường rất khó phối hợp để điều trị. Dùng liệu pháp châm cứu để điều trị trẻ mắc chứng biếng ăn, thực tiễn đã chứng minh, hiệu quả khá tốt .

Có thể điều trị bằng châm cứu đối với trẻ biếng ăn không
Có thể điều trị bằng châm cứu đối với trẻ biếng ăn không

Phép điều trị: Trước khi dùng kim tam lăng (kim 3 cạnh) hoặc kim khâu điếm châm vào hai bên huyệt tứ phùng, rồi nặn ra chút ít nước (dịch) màu trắng lại lấy gừng tươi vừa cắt ra bôi sát vào đó, lấy ngải điều nhỏ có đường kính 0,2mm sau khi đốt nóng thì trực tiếp châm vào hai bên huyệt túc tam lý, đợi sau khi ngải điều đã chạm vào phần da của huyệt thì nhấc lên ngay, 3 ngày châm cứu 1 lần. Nói chung, trẻ mắc chứng biếng ăn sau khi châm cứu 1-2 lần là lập tức muốn ăn uống. Nếu bị nặng, sau khi châm cứu 5 lần, phần đông là khỏi bệnh .

Điều trị biếng ăn ở trẻ bằng thuốc

Bài thuốc số 1

Hoàng kỳ, bạch truật, phục linh, hoàng tinh, trần bì, thanh đại, chích kê nội kim, chích cam thảo. Các thuốc trên chế thành xung tễ theo tỉ lệ 3:3:3:3:2:2:1:1. Mỗi túi 3g. Trẻ 1,5 – 3 tuổi, mỗi lần 1 túi, ngày 3 lần. Trẻ 3 – 5 tuổi, mỗi ngày 2 túi, ngày 2 lần. Trẻ 5  10 tuổi, ngày 3 lần, mỗi lần 2 túi. Nửa tháng khám lại 1 lần, liệu trình 3 tháng. Điều trị chứng biếng ăn ở trẻ. Phương này có công hiệu ích khí kiện tỳ. Hơn nữa, bổ mà không trệ, tiêu mà không thương (tổn) chính, ôn mà không táo. Làm cho tỳ khí đủ mạnh, vị khí điều hoà được, cốc khi được tiêu hoá, nạp hoá bình thường, đạt được mục đích điều trị chứng biếng ăn .

Thái tử sâm, sơn dược, phục linh, bạch truật, mỗi thứ 10g, trần bì, bội lan, mỗi thứ 7,5g, ô mai 5g. Mỗi ngày 1 thang, sắc uống, chia làm 3 lần. Có công hiệu Bình bổ khí âm, ích vị kiện tỳ. Phương này có đặc điểm tư mà không ngấy (béo), bổ mà không trệ, cho nên dùng để điều trị trẻ biếng ăn, rất có hiệu quả .

Bạch truật, sinh cố nha, sinh mạch nha, tiêu sơn tra, mỗi thứ 10g, thần khúc 9g, chỉ thực, trần bì, mỗi thứ 6g. Mỗi ngày 1 thang sắc uống (trung tiêu khoẻ tiêu hóá tốt) có công hiệu vận tỳ, tỉnh tỳ .

Điều trị biếng ăn ở trẻ bằng thuốc(2)
Điều trị biếng ăn ở trẻ bằng thuốc(2)

Trần bì, hương phụ, sao chỉ xác, sơn dược 1 uất kim, tiêu sơn tra, mỗi thứ 10g, kê nội kim, cam thảo mỗi thứ 6g. Các thuốc trên tán mịn thành tễ, đóng vào túi dùng dần. Trẻ 1 đến 3 tuổi, mỗi lần 5g, ngày 2 lần. Trẻ 3-6 tuổi, mỗi lần 5g, ngày 3 lần. Trẻ 6- 14 tuổi, mỗi lần 10g, ngày 2 lần. Trẻ 3-6 tuổi, mỗi lần 5g, ngày 3 lần. Trẻ 6-14 tuổi, mỗi lần 10g, ngày 2 lần. Một tháng là một liệu trình. Phương này lấy kiện tỳ tiêu tích hoàn vị làm chính. Qua quan sát lâm sàng, phương này có hiệu quả điều trị khá tốt đối với trẻ mắc chứng biếng ăn, hơn nữa chiêu uống tiện lợi, tác dụng phụ ít .

Đại hoàng, địa hoàng, phục linh, đương quy, sài hồ, hạnh nhân, mỗi thứ 0,9g. Tán mịn các thuốc trên, luyện làm hoàn, mỗi hoàn (viên) 3g, mỗi lần uống 1 hoàn, ngày 3 lần. Chủ trị trẻ nhỏ vị khí không điều hoà, gây ra chứng biếng ăn .

Bài thuốc số 2

Thái tử sâm, trần bì; mỗi thứ l0g, cửu hương trùng, kê nội kim, mỗi thứ 7,5g. Phơi khô thuốc trên, tán mịn, bỏ lọ dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 3g, chiêu uổng bằng nước (canh) táo. Điều trị chứng biếng ăn ở trẻ .

Cốc nha, mạch nha, sinh dĩ nhân, kê nội kim, mỗi thứ l0g, sơn dược 15g, trần bì 3g, ô mai 2 quả sắc 2 bát nước lấy nửa bát, uống nóng làm 3 lần, điều trị chứng biếng ăn ở trẻ, có công dụng tiêu trệ kiện tỳ .

Biển đậu, sơn dược, bạch truật, kê nội kim, mỗi thứ l0g, sa nhân 5g, sơn tra, mạch nha mỗi thứ 7,5g. Phơi khô thuốc trên, tán mịn, bỏ lọ dùng dần. Mỗi ngày 2 lần, mỗi iần 2g.  Điều trị chứng biếng ăn ở trẻ .

Thần khúc, sao mạch nha, tiêu sơn tra, mỗi thứ 15g, tân lang 9g, trần bì, mộc hương mỗi thứ 6g, chích cam thảo 4,5g. Phương này dùng cho trẻ 3-6 tuổi, có thể tăng giảm theo độ tuổi . Mỗi ngày 1 thang, sắc uống. Chủ trị chứng biếng ăn ở trẻ. Phương này có thể khai vị tiêu thực, nhiều trẻ biếng ăn sau khi uống thuốc này 3-5 ngày thì cảm giác ăn tăng tiến.

Điều trị biếng ăn ở trẻ bằng thuốc(tiếp)
Điều trị biếng ăn ở trẻ bằng thuốc(tiếp)

Sinh cốc, mạch nha, liên nhục, mỗi thứ 15g, sơn tra l0g, sắc uống chia 3 lần, mỗi lần 40-60 ml. Mỗi ngày 1 thang. Chủ trị chứng biếng ăn ở trẻ, có công hiệu kiện tỳ tiêu hoá .

Sao bạch truật, phục linh, phật thủ, mỗi thứ l0g, quảng trần bì 6g, hương sa nhân 3g, tiêu tam tiên 20g. Mỗi ngày 1 thang, sắc 2 nước, uống nóng làm 4 lần 5 thang là 1 liệu trình. Điều trị trẻ biếng ăn gây bởi tỳ không kiện vận, ăn uổng đình trệ, ngày tháng kéo dài ảnh hưởng đến can vị .

Điều trị chứng biếng ăn bằng trà

Điều trị bằng trà thuốc là gia công thuốc Trung y (phương thuốc nhất vị hoặc nhiều vị) hoặc thực phẩm thành dạng bột mịn, ngâm trực tiếp vào nước đã sôi hoặc đun sắc lọc đi uống thay trà, có ưu điếm là chế biến đơn giản, dễ làm. Xin giới thiệu một vài phương trà thuốc điều trị chứng biếng ăn ở trẻ như sau:Kết quả hình ảnh cho thuốc trung y

1- Kê nội kim 3g. Tán mịn kê nội kim, ngâm vào nước sôi, uống thay trà. Chủ trị trẻ biếng ăn .

2- Trám, mỗi ngày 5 quả, ngâm nước sôi, uống như uống trà . Chủ trị chứng biếng ăn thuộc vị âm không đủ .

3- Cà rốt 250g. Đun sắc cà rốt, cho thêm chút đường đỏ, uống nhiều thay trà. Chủ trị chứng biếng ăn ỏ trẻ và các chứng tích trệ, đầy bụng, tích thực không tiêu, thổ tả liên hồ, quấy khóc không yên .Hình ảnh có liên quan

4- Gừng rửa sạch, cắt thành miếng, ngâm trong dấm chua 1 ngày đêm. Khi dùng lấy ra 3 miếng gừng, thêm chút đường rồi ngâm vào nước sôi già, uống thay trà .

5- Đại táo 10-20 quả, vỏ quất tươi 15g ( hoặc trần bì 3g), trước hết cho đại táo vào nồi sao cháy, sau đó bảo cùng với vỏ quất vào cốc bảo ôn (phích nước nhỏ rộng miệng) ngâm với nước sôi già khoảng 10 phút, uống nhiều thay trà trước khi ăn, mỗi ngày 1 thang .

Điều trị bằng bánh

1- Đại táo nhục 250g, sinh khương, sinh kê nội kim mỗi thứ 60g, bạch truật 120g, quế bì 9g, đường trắng 20g, bột mì vừa đủ. Phơi khô các vị thuốc trên rồi tán mịn, trộn đều, thêm đường trắng bột mì làm thành bánh nhỏ, bắc nồi sấy, nướng chín, Mỗi ngày ăn 2-3 cái, ngày 3 lần, làm điểm tâm ăn lúc đói, ăn liền 7-8 ngày. Thích hợp dùng cho trẻ có bệnh dạng tỳ hư bị thấp .Kết quả hình ảnh cho bánh thuốc

2- Oa tiêu 150g, thần khúc, sơn tra nhục, liên tử nhục, mỗi thứ 12g, sa nhân 6g, kê nội kim 3g, bột gạo tẻ 250g, đường cát trắng 100g. Sao vàng oa tiêu trong nồi, .sau đó cho oa tiêu, thần khúc, sơn tra, sa nhân, liên tử nhục, kệ nội kim vào máng nghiền cùng tán mịn, trộn đều cùng với bột gạo tẻ, đường trắng, cho nước vừa phải, nhào thành bột mì (hơi) nhão, rồi làm bánh nhỏ như cách thông thường, cho vào nồi nướng chín là được. Mỗi ngày 1-2 lần, ăn 2-3 miếng như ăn bánh bích quy vậy, ăn liền 3-5 ngày . Có tác dụng bổ tỳ kiện vị, trợ tiêu hoá. Thích hợp cho trẻ tỳ vị hư nhược, sức tiêu hoá yếu, ăn uống không ngon miệng, đại tiện nhão nát… Nên làm đến đâu, ăn hết đến đấy, để lâu quá hoặc đã biến chất không được ăn .Kết quả hình ảnh cho bánh thuốc

3- Đảng sâm 90g, bạch truật 60g, phục linh, biển đậu, ý mễ, sơn dược, khiếm thực, liên tử, mỗi thứ 180g, trần bì 45g, bột gạo nếp, bột mì, mỗi thứ 1,500g, đường trắng 500g. Tán mịn các vị thuốc rồi trộn đều với bột gạo nếp, bột mì, đường trắng, làm bánh hấp hoặc bánh nướng. Mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 30-60g. Ăn điểm tâm lúc đói, ăn liền 7-8 ngày. Thích hợp cho trẻ tỳ vị hư nhược ăn .

 

Làm gì để sửa thói quen vừa ăn vừa chơi ở trẻ?Tại sao ở nhà lạ không chịu ăn?

Làm gì để sửa thói quen vừa ăn vừa chơi ở trẻ?

Trẻ không hiểu được tầm quan trọng của thực phẩm, có lúc rất lợi là ăn uống, ngược lại càng thích thú hoạt động khác hơn, người mẹ muốn cho con ăn được nên không can ngăn trẻ, thế là vô hình dung gây cho trẻ thói quen vừa ăn vừa chơi. Nếu ở  tình trạng đã gần no, ăn uống không cấp thiết lắm. Bạn thử giả vờ mang bát cơm đi, nếu trẻ lập tức lại đòi ăn, chứng tỏ vừa rồi trẻ không phải là không đói bạn lại cho trẻ ăn, đồng thời bảo trẻ phải ăn xong cơm mới được chơi. Nếu trẻ cứ đòi chơi, thì không ngại gì chờ 1 lát lại cho trẻ ăn. Cứ như vậy, rèn luyện nhiều lần, tự nhiên là sửa lại được thói xấu vừa ăn vừa chơi của trẻ .

Tại sao ở nhà lạ không chịu ăn?

Làm gì để sửa thói quen vừa ăn vừa chơi ở trẻ?Tại sao ở nhà lạ không chịu ăn?
Làm gì để sửa thói quen vừa ăn vừa chơi ở trẻ?Tại sao ở nhà lạ không chịu ăn?

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên nhìn thấy có nhiều trẻ ở nhà trẻ thì giằng cơm của bạn mà ăn, ăn ngon lành thú vị, thế nhưng ở nhà lại không chịu ăn. Có nhiều nguyên nhân: một là trẻ ăn quá nhiều chất đạm, lại thường hay ăn vặt, ăn cơm không ra bữa gây cho trẻ “biếng ăn”. Hai là, từ nhỏ không nuôi dưỡng thói quen sinh hoạt tốt và khả năng sinh hoạt độc lập cho trẻ, một mực nuông chiều cái gì bố mẹ cũng bao biện làm thay, không cho trẻ tự xúc lấy cơm ăn. Ba là, chịu ảnh hưởng của người lớn, có 1 số bố mẹ (thường thấy ở nông thôn), khi ăn cơm cũng bưng bát chạy hết nhà này sang nhà nọ .

Làm gì để sửa thói quen chỉ thích ăn 1 vài thứ ở trẻ?

Theo điều tra phát hiện của quan chức hữu quan đối với 1 bộ phận nhi đồng từ 2 đến 15 tuổi, thấy rằng nhi đồng chỉ thích ăn 1 vài thứ là hiện tượng khá phố biến. Nhi đồng chí thích ăn 1 vài thứ ở thành thị cao hơn ở nông thôn. Sửa lại thói quen chỉ thích ăn 1 vài thứ của trẻ nhỏ, có thể dùng các biện pháp như sau:

Khêu gợi giáo dục, nhẫn nại thuyết phục làm tăng hứng thú các loại thực phẩm khác của trẻ. Như là giảng giải tận tình cho trẻ về những ưu điểm của loại thực phẩm mà trẻ không thích ăn, khêu gợi cho trẻ từ bị động ăn chuyển sang thích ăn .

Theo điều tra phát hiện của quan chức hữu quan đối với 1 bộ phận nhi đồng từ 2 đến 15 tuổi, thấy rằng nhi đồng chỉ thích ăn 1 vài thứ là hiện tượng khá phố biến. Nhi đồng chí thích ăn 1 vài thứ ở thành thị cao hơn ở nông thôn. Sửa lại thói quen chỉ thích ăn 1 vài thứ của trẻ nhỏ, có thể dùng các biện pháp như sau:

Làm gì để sửa thói quen chỉ thích ăn 1 vài thứ ở trẻ?
Làm gì để sửa thói quen chỉ thích ăn 1 vài thứ ở trẻ?

Khêu gợi giáo dục, nhẫn nại thuyết phục làm tăng hứng thú các loại thực phẩm khác của trẻ. Như là giảng giải tận tình cho trẻ về những ưu điểm của loại thực phẩm mà trẻ không thích ăn, khêu gợi cho trẻ từ bị động ăn chuyển sang thích ăn .

Tích cực chỉ dẫn. Khi trẻ hơi có chút tiến bộ, phải kịp thời biểu dương và khuyến khích, không được đánh mắng, cưỡng ép đề phòng trẻ nảy sinh tính từ chồi ăn .

Đối với thực phẩm trẻ không thích ăn, cần phải nấu nướng pha chế tinh tươm, cố gắng làm cho mùi vị, màu sắc thật hấp dẫn, còn có thể trộn những thức ăn này vào các thức ăn mà trẻ thích, khiến cho trẻ thích ứng dần dần từng bước .

Hàng ngày vào bữa ăn, có thể bật âm nhạc vui tươi, lành mạnh cho trẻ nghe, đế phân tán sự chú ý vào việc khác tăng tiến thêm ăn cho trẻ .

 

Ăn vặt có gì không tốt?

Ăn vặt có gì không tốt?

Trẻ nhỏ ăn vặt nhiều, không chịu ăn cơm canh, dinh dưỡng hấp thụ được không đầy đủ. 1 ngày 3 bữa, thường là các loại gạo, mì, rau tươi và cá thịt. Những  thành phần này có thế cung cấp các chất đường, đạm, chất béo, các loại vitamin muối vô cơ cần thiết cho sự trưởng thành, phát triển của trẻ nhỏ. Còn các loại ăn vặt tuy cũng có chất dinh dưỡng nhất định, nhưng thường thường là của ngọt làm chính .

Ăn vặt có gì không tốt?
Ăn vặt có gì không tốt?

Còn ăn bừa bãi, tuỳ liệu trước lúc ăn, giữa 2 bữa, tất nhiên sẽ  làm cho ăn giảm đi, đến bữa ăn chính lại ăn ít, tổng dinh dưỡng hấp thụ được sẽ không đầy đủ. Cứ thế kéo dài, gây thành thói quen xấu thích ăn vặt, không muốn ăn bữa chính, có thể làm ảnh hưởng đến sự trưởng thành và khả năng phòng chống bệnh của cơ thể. Vì dạ dày đường ruột của người hoạt động có quy luật, có lúc hoạt động, cũng phải có lúc nghỉ ngơi thích hợp, trẻ nhỏ ăn vặt luôn miệng sẽ làm nhiễu loạn quy luật sinh lý về hoạt động tiêu hoá của dạ dày, đường ruột, ảnh hưởng đến chức năng tiêu hoá .

Sửa thói quen ăn vặt nhiều ở trẻ

Trẻ có thói xấu ăn vặt, bố mẹ phải tìm cách sửa lại cho trẻ. Trước hết, phải cò kế hoạch giảm dần ăn vặt của trẻ, ngoài việc sau bữa cơm cho trẻ ăn mệt chút ít kẹo và hoa quả ra, những thời gian khác tốt nhất là không ăn, càng không nên ăn trước bữa ăn, cơm canh 1 ngày 3 bữa của trẻ phải làm cho thật phong phú, thật hấp dẫn, để cho trẻ phải muốn ăn, có khi trẻ không chịu ăn cơm, nên để cho trẻ đói một chút rồi mới cho ăn, nhất thiết chớ vội vàng dúi quà cho trẻ ăn vặt. Trong khoảng thời gian khá dài từ bữa trưa đến bữa tối, có thể cho trẻ ăn điểm tâm theo giờ quy định. Lúc này, cần quan tâm thích đáng đến khẩu vị của trẻ, cho trẻ ăn chút ít thứ gì mà trẻ thích ăn, nhưng không nên cho ăn quá nhiều để tránh ảnh hưởng đến ăn .

Chúng ta đều biết chỉ thích ăn 1 vài thứ là bất lợi cho cơ thể, có những trẻ nhỏ chỉ chuyên ăn độ 1 vài thứ thực phẩm, cái đó đều không có lợi cho sự trưởng thành, phát triển của trẻ. Loài người không giống như thực vật, mà có cả một hệ thống hợp thành hoàn chỉnh, có thể đem sự hợp thành chất vô cơ tạo ra các Acid Amin, chất đạm, chất béo và chất dinh dưỡng. Những Acid Amin thiết yếu nào đó như Lencine, Eirnal, Methionine, Islencine, thereonine, Lysine, Truptophan, Histadine, và Valine, cơ thể không tự hợp thành được, mà phải nhờ vào thực phẩm để cung cấp .

Làm gì để sửa thói quen ăn vặt ở trẻ?
Làm gì để sửa thói quen ăn vặt ở trẻ?

Hàm lượng trong thực phẩm này nhiều, hàm lượng trong thực phẩm kia ít, thậm chí không có. Thực phẩm trong giới tự nhiên, không có 1 loại nào gồm đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho loài người. Nếu chỉ thích ăn 1 vài thứ, tất nhiên khiến cơ thể không có được đầy đủ Acid Amin thiết   yếu, kết quả không thể nào hình thành chất đạm cần thiết cho cơ quan tổ chức của cơ thể. Như vậy, trưởng thành và phát triển sẽ bị ngăn chặn lại, dẫn đến sinh bệnh. Ngoài ra, chất béo trong thực phẩm cũng rất quan trọng, là nguồn nhiệt năng quan trọng của hoạt động cơ thể con người, hơn nữa trong đường ruột, chất béo còn có thể giúp cho sự hấp thụ vitamin hoà tan trong chất béo .

Nếu trong thực phẩm có quá ít chất béo, tất sẽ ảnh hưởng đến việc hấp thụ chất dinh dưỡng như vitamin A, vitamin D. Như vậy sẽ có khả năng gây nên những bệnh, suy dinh dưỡng, nếu thiếu vitamin A sẽ bị bệnh thông manh, bệnh khô mắt thiếu vitamin D sẽ bị bệnh còi xương v.v… Cơ thể con người loại trừ cần thiết 3 loại chất dinh dưỡng lớn là chất đạm chất béo và đường, đối với thành phần nước, muối vô cơ chất xơ, vitamin đều không thể thiếu được thiếu 1 loại vật chất nào đó sẽ có thể mắc bệnh. Cho nên cần phải phòng chống và uốn nắn thói quen trẻ chỉ thích ăn 1 vài thứ, khiến cho trẻ mau chóng lớn khôn, khoẻ mạnh .